• Trang Chủ  • Giới thiệu  • Liên lạc Việt Tộc Foundation: P.O BOX 10061, Silver Spring, MD 20914-0061  English
Viettoc Foundation
Thư ngõ VT Chương trình đặc biệt VT Chương trình học vấn VT Chương trình y tế VT Tâm tình chia sẻ VT Quá trình sinh hoạt VT Hình ảnh
 Tâm tình chia sẻ
 TÀI LIỆU MỚI
Ðóng góp xin bấm
Tâm tình chia sẽ
 
Hồi ký

Tây Nguyên – nghe có vẻ xa lạ, rừng rú và nghĩ ngay đến người Thượng đang sinh sống, sống theo du canh du cư, sống trên nhà sàn, da ngăm đen, đàn ông đóng khố, đàn bà quấn xà-rông. Đó là những suy nghĩ của một người chưa một lần bước chân lên Tây Nguyên.
Ngày đầu tiên tôi theo chân cha Vang lên Tây Nguyên, theo lời dụ dỗ của cha mỗi lần về thăm lại quê hương. Cha rủ tôi và Lang đi nhiều lần rồi, nhưng tôi cứ thoái thác hết lý do này đến lý do khác để mà không đi. Rồi điều gì nó đến là nó đến “phải ra đi”. Khi đi, tôi đã chuẩn bị trước nó sẽ thiếu thốn mọi thứ như : ăn bờ ở bụi, ăn sẽ không hợp khẩu vị, không tiện nghi như ở nhà, và nhiều . . . . ., kể cả phải tiếp xúc với người bị “phong cùi”, và tôi đã quyết tâm lên đường cùng với cha.

Ngày 5 tháng 2 năm 2004.
Vào khoảng 10 giờ sáng, tôi cùng với cha Vang, chị Trang, chị Hương và Minh (lái xe trong chuyến đi này) khởi hành từ Sàigòn lên Tây Nguyên theo hướng tỉnh Bình Dương. Một ngày đi khá vất vả, vì bị lạc đường. Rồi chúng tôi cũng tới được trạm dừng chân đầu tiên của chuyến đi này – PLEIKLY, vào buổi tối không trăng, không sao, trời tối om, lạnh, gió mạnh, cây cối ngả nghiêng, tiếng rít của cây hòa quyện với gió rừng. Trời tối, xa xa có vài ánh đèn tỏa sáng một cách yếu ớt. Biết ngoài trời lạnh, tôi nghĩ mình sẽ chịu đựng được, để đi từ xe vào nhà khoảng vài chục mét, cho nên tôi không mặc áo lạnh, nhưng không ngờ khi đặt chân xuống đất, tôi bị nhiễm lạnh ngay, run cầm cập, như không thể bước chân nổi, phải vội vàng lao vào bếp còn lửa để hơ cho khỏi lạnh. Nhớ đời, tôi đã không lượng được sức, cho nên mới xảy ra sự việc này.

Ngày 6 tháng 2 năm 2004.
Sáng hôm sau, trong khi chờ đợi đi Pleiku, tôi đi thăm một vòng nhà thờ của Giáo Điểm Pleikly, đất đỏ nhuyễn như bột, vì thế mỗi lần gió thổi là bụi bay mịt mù. Nhà thờ nhỏ, kiến trúc theo kiểu nhà sàn, vật liệu xây dựng toàn bằng gỗ. Nhà xứ thì cũ kỹ, từ nhà cho đến đồ dụng bên trong. Có lẽ, nó là nhân chứng của việc hình thành của Giáo Điểm Pleikly này, nó trải qua bao nhiêu biến cố, bao khổ cực của người đi trước, bằng mồ hôi, sợ hãi, hy sinh, tù đày và cả bằng niềm tin vào Đức Kitô.
Chúng tôi rời Pleikly để đến dòng Saint Paul – Pleiku, tại đây chúng tôi được các Soeur đưa đi thăm làng phong Xà-Gào, ở đây có khoảng mười tám người, tất cả là người già trên 60 tuổi gồm đàn ông, đàn bà đều phong. Người bị mất bàn tay, nửa bàn chân, ngón tay, ngón chân, mũi bị sụp xuống, . . . .; nơi đây được các soeur chăm sóc, giúp đỡ. Họ sống trong căn nhà được bao quanh bởi bốn tấm tôn, nền đất và trong nhà không có bất cứ đồ gì giá trị, ngoài cái giường gỗ cũ kỹ. Đặc biệt nhà nào cũng có một bàn thờ nho nhỏ. Khi chúng tôi thăm hỏi họ, cho họ bánh kẹo, họ cười nói huyên thuyên với một tinh thần lạc quan và yêu đời, cho dù họ bị tàn phế, bị xã hội cách ly. Họ rất vui khi được quàng vai vỗ về hoặc nắm cổ tay họ thay vì bắt tay, họ rất tế nhị không bao giờ họ chủ động bắt tay chúng ta trước. Tôi không hề nhìn thấy sự bi quan trong cuộc sống của họ.

Ngày 7 tháng 2 năm 2004.
Sau bữa ăn sáng, chúng tôi rời dòng Saint Paul đi nhà thờ Pleichuet, nơi cha Tài và cha Thịnh cai quản. Cha Tài là người tiếp tục khai phá vùng Tây Nguyên, kế thừa các cha Truyền giáo người ngoại quốc.
Đầu giờ trưa, chúng tôi cùng với cha Thịnh thăm làng nơi có nhà thờ bị bỏ hoang không được hoạt động. Rồi đi làng Plei Teng, ăn tối, uống rượu Cần, “xoan” (có nghĩa là múa). Khoảng gần bảy giờ tối, tiếng cồng chiêng vang lên xuyên qua núi rừng nghe rất quyến rũ. Từ từ các bà già, cô gái, trẻ em, đủ mọi thế hệ tập trung vào sân của gia đình của ông Pơ-teng để “xoan”. Nhìn mọi người đi vào trong sân mỗi lúc mỗi đông hơn, khoảng nữa giờ là sân đầy người để chuẩn bị cho cuộc vui tối nay với khách. Thịt nướng, cơm ống tre, rượu Cần và “xoan” là những cái khi đến làng được tiếp đãi như vậy. Có lẽ cơm ống tre là đặc sản của Tây Nguyên, vì mỗi lần các em Dân Tộc về thăm nhà và trở lại chỗ làm việc trên Sàigòn là chúng tôi có loại cơm này để ăn.

Sau một buổi tối vui chơi, chúng tôi rời làng vào gần 9 giờ tối. Từ làng này trở về nhà thờ Pleichuet khoảng 30 - 40 cây số. Chúng tôi, ba chiếc xe Honda đua nhau chạy với vận tốc 40 – 60 Km/giờ. Đường thì tối tăm, không một bóng đèn đường, chỉ nhờ vào ánh sao đêm lờ mờ và lâu lâu có vài ánh đèn heo hắt từ trong vài căn nhà dọc hai bên đường hắt ra. Đường thì tối, trời thì lạnh, năm người trên ba chiếc xe lao vun vút, cứ đeo bám nhau mà trở về nhà.

Ngày 8 tháng 2 năm 2003.
Hôm nay là ngày Chủ Nhật, lần đầu tiên tôi dự Thánh Lễ vói các anh chị em Dân Tộc. Đầy chật cả nhà thờ, họ ca hát, nắm tay múa tại chỗ, cùng nhau đọc Thánh Thư và Phúc Âm, thầy Thịnh (lúc đó chưa được hợp thức hóa chức vụ Linh Mục) đọc Phúc Âm, giảng bằng tiếng Kinh cho người Kinh và tiếng Gia Rai cho người Gia Rai. Họ đánh cồng chiêng thay vì sử dụng chuông trong Thánh Lễ.
Sau Thánh Lễ, tiếng cồng chiêng lại vang lên, mọi người bao quanh “cây Nêu” để “xoan”, cồng chiêng lại vang lên theo điệu nhạc của núi rừng. Chúng tôi mang mì gói ra, các anh chị em Dân Tộc xúm xít nhau lại nấu một nồi lớn. Bữa ăn sáng là thế.

Ăn no, chúng tôi đi vào trong làng để thăm đời sống của đồng bào Dân Tộc. Nhà cũ kỹ, được xây dựng bằng gỗ nhỏ, nằm lọt thỏm trong. Trong nhà chẳng có đồ đạc gì quí giá ngoài vài cái ghế, tủ, giường cũ. Nền đất, đường đất, có những khu nhà được xây, nền gạch bông, có lẽ đã xây lâu lắm rồi. Khi nhìn vào ai cũng nghĩ họ tương đối khá, nhưng khi hỏi chuyện thì mức sinh hoạt ở đây rất thấp so với Saigon. Tôi có thể đưa ra một thí dụ như: 500 đồng ở Saigon chúng tôi không biết mua cái gì, vì gửi xe đạp cũng phải trả 1.000 đồng rồi. Nhưng ở đây vẫn còn sử dụng và đi đám ma, họ phúng điếu 500 đồng. Lớp mẫu giáo, mỗi cháu phải đóng 2.000 đồng cho ăn buổi trưa và buổi xế. Mà ở Saigon 2.000 đồng đủ để ăn một cây kem.
Buổi tối, cha Vang mời các chị Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đi ăn tối.

Ngày 9 tháng 2 năm 2003
8 giờ 45 phút sáng, chúng tôi rời Pleichuet đi lên Kontum, nơi mà các ân nhân giúp đỡ xây dựng một trại gà khoảng 1.000 con, do các soeur Dòng Thánh Phaolô trông coi. Chúng tôi đến Dòng Thánh Phaolô sau 2 giờ chiều, lúc này các soeur đang bận rộn chuẩn bị gạo cho buổi chiều đi thăm làng Phong Dăk-Ring. Trong khi chờ đợi, chúng tôi ghé thăm Tòa Giám Mục Kontum. Thật bất ngờ tòa nhà hoàn toàn bằng gỗ, từ nhà nguyện, đến nhà Bảo Tàng Truyền Giáo Tây Nguyên, nơi làm việc. Có một câu đối làm tôi phải chú ý, tôi có ghi lại như sau:

ĐI GIEO ẤM ỨC KHÓC
VỀ GẶT RỘN RÃ CƯỜI

Được treo trong nhà Bảo Tàng Truyền Giáo Tây Nguyên. Nơi đây nói lên được sự gian nan về việc Truyền Giáo thời các cha Ngoại Quốc cho đến các cha người Việt Nam.

Đầu giờ chiều, chúng tôi cùng với các soeur vào làng Phong Dăk - Ring, đường rất xấu, bụi bay mịt mù. Làng này ở tận sâu bên trong rừng, nói là rừng nhưng thực tế chẳng còn bao nhiêu cây nữa.

Khi xe đến, họ đã được báo trước, gọi nhau ơi ới. Họ lấy một tấm Nylon lớn trải xuống đất, từng bao gạo được vác xuống. Cha Vang dặn tôi, khi đến nơi đâu nếu có thể được, nên lùng xục khắp nơi để lấy hình ảnh và quan sát thực trạng đời sống của họ. Khi xuống xe tôi thấy họ ở nhiều hướng đổ về chờ phân phát gạo, tôi đi sâu vào bên trong vô những căn nhà của họ. Chung quanh căn nhà được đan bằng tre và nhưng tấm cót. Thực sự làm sao họ có đủ nhưng tấm cót để bao kín nhà. Vì thế, có cho có, có còn hơn không. Do vậy, căn nhà không cần bóng đèn, không cần quạt, vì lúc nào ánh sáng cũng lọt vào và gió cũng đi qua. Chỉ riêng chỗ ngủ họ còn che kín để tránh gió lạnh và nắng nóng.

Cha Vang có tài dụ dỗ con nít, cha tập trung được khoảng gần 30 cháu lại, tập hát, làm ảo thuật. Chị Trang chụp hình, chi Hương phát kẹo. Nơi đây gây cho tôi một ấn tượng mà tôi suy nghĩ hoài, chi Hương kể: khi chị phát kẹo cho những đứa trẻ và cả người lớn; kẹo còn dư, chị cho những đứa trẻ thêm, nhưng chúng không nhận và chạy đi, chị Hương cứ nghĩ là có vấn đề gì đó mà mình không biết, vì bất đồng ngôn ngữ mà. Một lát sau cậu bé đó chạy lại giơ cho chị Hương coi bao kẹo, mà không còn kẹo bên trong. Lúc đó mới hiểu ra rằng: cậu ta có kẹo rồi không lấy nữa. Qua đó tôi thấy sự chất phát của các em Dân Tộc, hiện còn sống ở trong làng.
Nơi đây, cũng có những người bị phong cùi đã được chữa khỏi rồi hoặc đang còn chữa bệnh, sống chung với những người lành lặn. Tôi thấy một người đàn ông bị phong cùi, ngón tay bị co lại, hai bàn chân bị rụng gần hết móng, bế một đứa con nhỏ lành lặn. Thực sự không thể cách ly họ được, vì cách ly họ, họ sẽ đi đâu? Ở đâu? Ai chăm sóc họ?

Sau khi phát gạo xong một lúc, chúng tôi trở ra. Khi xe chạy, các em rượt theo xe để chia tay với chúng tôi, thật dễ thương và tội nghiệp.
Trên đường về, chúng tôi ghé vào thăm trại gà mà các ân nhân tài trợ cho. Nhưng khi chúng tôi đến thăm, thì đúng lúc chính quyền đang diệt tất cả số gà mà các Soeur nuôi, vì bị nhiễm H5N1.

Tiền thu được từ trại gà, các soeur dùng để lo cho người dân tộc .
Sau đó, chúng tôi trở về Pleichuet lấy hành lý, đi về Ayunpa, nơi cha Chiến trụ trì. . . . . . .

 
Copyright © 2008 Viettoc. All Rights Reserved. Viettoc Foundation is a 501 (a)(3) non-profit organization with the tax-exempt IRS-EIN number 52-2280660