• Trang Chủ  • Giới thiệu  • Liên lạc Việt Tộc Foundation: P.O BOX 10061, Silver Spring, MD 20914-0061  English
Viettoc Foundation
Thư ngõ VT Chương trình đặc biệt VT Chương trình học vấn VT Chương trình y tế VT Tâm tình chia sẻ VT Quá trình sinh hoạt VT Hình ảnh
 Tâm tình chia sẻ
 TÀI LIỆU MỚI
Ðóng góp xin bấm
Tâm tình chia sẽ

Vài cảm nghĩ về chuyến đi Pleikly

           

Khi tôi quyết định tiến hành chuyến đi, tôi không có ý tưởng về điều gì đó  đến với tôi;  tất cả điều tôi biết là mục tiêu cuộc sống trong lòng tôi là giúp người, và bước đầu tiên được thực hiện như thế. Trước khi  bước vào hành trình, chúng tôi phải phân chia qùa tặng để phân phối riêng cho từng vùng chúng tôi sẽ đến thăm. Lách vào phía sau xe buổi sáng sau đó, những cảm giác như quyện vào  không khí. Tôi cảm thấy hồi hộp, lo ngại và rối bời tât cả ập đến, bởi vì tôi chưa bao giờ gặp người miền núi. Tôi sẽ gặp ai đây? Họ như thế nào ? Điều gì xẩy đến với tôi? Làm sao tôi nói chuyện với họ? Làm sao tôi đương đầu ? Có thể nào tôi thích nghi với lối sống của họ? Họ có thích tôi không? Tôi có thích họ không? Đó là những câu hỏi quay cuồng trong đầu tôi. Chuyến xe thì dài và xóc; khi chúng tôi nhìn thấy bụi đỏ quanh mình tôi nghĩ chúng tôi gần tới , nhưng không gần như thế. Chỉ có một điều giữ cho tâm trí tôi khỏi buồn chán là ngắm cảnh và nghe kể chuyện từ Cha Vang và Chú Thiện. Chúng tôi rời Saigon vào khoảng  7 giờ sáng và đến Pleiku vào khoảng 9 giờ tối; Cha Chiến và Sơ Hằng thân thiện đón chúng tôi, và chúng tôi ăn bữa tôi được sửa soạn sẵn bởi họ biết chúng tôi sẽ dến.

            Buổi sáng kế tiếp chúng tôi tham dự hai thánh lễ khác nhau; một dành cho trẻ em lúc 7 giờ sáng và lễ tiếp theo là cho người lớn bắt đầu lúc 10 giờ. Thánh lễ của họ thì rất khác với thánh lễ chúng ta ở đây. Trẻ em tất cả dõi theo kinh thánh rồi đọc theo Cha Chiến công bố Tin Mừng. Các em yêu thích và mong muốn đến nhà thờ, không giống như chúng ta ở đây bị bắt buộc đến nhà thờ mỗi Chúa nhật. Đối với người lớn, phụ nữ thực hiện  vũ điệu  tại ghế của họ và đàn ông vỗ tay theo khi họ hát,  các nhạc cụ họ sử dụng âm điệu rất dễ chịu với những cái tai. Mọi  người trong nhà thờ tham gia một cách sống động suốt trong thánh lễ; đây là thánh lễ đầu tiên mà tôi không buồn ngủ. Điều lý thú tôi thấy trong thánh lễ là cầu nguyện lớn tiếng với Chúa Giê su; nhưng thay vì nguyện xin, họ cám ơn Người về những gì Người đã cho họ. Khi thánh lễ kết thúc, chúng tôi sẵn sàng và tiến hành lên đường lần nữa; nơi dừng kế tiếp của chúng tôi là Ayunpa.

            Buổi sáng tiếp theo chúng tôi thăm làng phong cùi; trên tuyến đường đi tôi đã nhìn thấy rất nhiều nhà gỗ mà người dân tộc cư trú. Khi chúng tôi rẽ vào đường đến làng, tôi có thể nhìn thấy căn nhà có những khe nứt giữa hai tấm gỗ  và bạn có thể nhìn vào trong nhà. Ngay lập tức tôi chạnh lòng, họ có cuộc sống như vậy sao và chắc rằng tôi không thể sống một cuộc sống giống như thế này. Đây là lần đầu tiên tôi có sự tiếp xúc gần gũi với những người bệnh phong cùi; những trẻ em  đã không  chọn để có điều kiện này nhưng cha mẹ các em đã truyền lại cho các em. Nhìn vào những con mắt vô tội làm cho tôi cảm thấy bất lực; không có gì tôi có thể làm để chấm dứt bi kịch mai sau mà  các em đã tiếp cận. Tất cả chúng ta có thể làm bây giờ là đem vào cuộc sống các em càng nhiều nụ cười

            Các em vui khi chúng tôi trao kẹo, những con thú bằng vật liệu, và những trái bong bóng; với một vật dụng không gía trị chúng tôi có thể nhận được tiếng cười của các em, một bảo vật vô gía. Tôi sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm của ngày đó. Trẻ em tụ tập quanh tôi chờ đợi tôi cho qùa; ôi những giao động trong không khí trên các em được trộn lẫn với mùi của đất và mồ hôi. Hình ảnh của các em chạy về phía tôi để bắt tay là điều khắc ghi trong đầu tôi, bởi đó là dấu hiệu các em không e ngại tôi mà  mở rộng vòng  tay cho tôi bởi thế tôi có thể để các em mượn bàn tay đỡ đần của tôi.

            Chiều hôm đó là lần đầu tiên của tôi qua đêm tại một làng ở Krong Pa. Tôi ở tại nhà của Trâm 4 ngày và 4 đêm; gia đình Trâm  sống trong ngôi nhà gỗ thuộc nếp xưa được xây dựng thủ công. Trâm và gia đình rất tử tế và đón nhận tôi vui vẻ; chúng tôi là những người xa lạ và hơn thế họ còn níu tôi vào  cánh tay yêu thương của họ. Tôi có niềm vui lớn trong lúc ở đó. Tôi tham gia công việc đồng áng; tôi giúp cắt lúa ngoài đồng, và ngắm họ chăn bò trên mảnh đất trống.

            Gặt lúa là việc  nhọc nhằn vì nó liên quan tới lưng còng xuống, bị thiêu đốt dưới mặt trời, và chân của bạn dính chắc trong bùn. Tôi chứng kiến một đám ma trong làng và theo chân  lấy nước. Đám tang thật đơn giản, đêm trước khi quan tài được chôn, mọi người trong làng qui tụ tại gia đình để cầu nguyện. Có nhạc và múa thâu đêm; người ta canh thức suốt đêm để an ủi gia đình thân nhân mất. Tôi có dịp bước xuống bờ đá nơi dân làng lấy nước uống. Thật khó cho tôi bước lên xuống bờ dốc đó,  nhưng hết sức dễ dàng cho những cô bé đang lấy nước ở đó. Cô bé gùi những bình nước nặng trĩu trên lưng trong lúc bước lên  đồi, và cái cảnh thồ với xe đạp của cô bé là một cảnh tôi chẳng thể quên. Ở độ tuổi  non nớt cô bé đã gánh vác  việc nhà rồi trong lúc những đứ trẻ may mắn chơi đùa và sống một cuộc đời vô tư. Người dân trong làng sống cuộc đời rất đơn giản; họ giúp nhau thu  hoạch trên đồng đổi lại việc giúp của họ dành cho lúc cần  thu gom mùa màng riêng mình. Trẻ em không thể đến trường sẽ chăn bò hoặc tìm việc khác phụ vào ngân quĩ gia đình. Người dân để ý đến môi trường, họ không dùng phân hóa học cho cây trồng; họ chỉ dùng phân bò. Họ có mảnh vườn riêng cho phân người và  không bốc mùi. Đêm trước khi tôi  xa làng, nhóm cầu nguyện đặc biệt tụ họp để nói lời chia tay. Tại buổi họp mặt, chúng tôi đã hát, chia sẻ những câu chuyện cuộc sống , và trao đổi địa chỉ để  giữ  liên hệ. Tôi có khoảnh khắc rất đáng nhớ đêm đó, và sẽ ghi  nhớ tình bạn bè nồng ấm mà tôi đã gây dựng ở đó.

            Nơi dừng chân sau cùng của tôi là  trở lại Pleikly nơi thánh lễ Kỷ niệm 40 năm diễn ra. Lễ hội rất sống động với nhiều hoạt động và món ăn ngon; có khoảng sáu ngàn người tham dự biến cố này. Có ca múa, và mọi người nói chuyện thân thiện quanh bạn. Tôi đã làm quen với vài người bạn dịp này và giữ liên lạc trong  thời gian ở Việt nam. Từ cuộc hành trình này tôi nghiệm thấy sự quan trọng của việc cung cấp kiến thức cho người dân tộc để họ có thể tự bảo vệ chống lại một chính quyền tham lam muốn chiếm đất đai và tự do của họ. Tôi phải nói rằng đây là hành trình về Việt nam tốt nhất mà tôi chưa từng có được; kinh nghiệm và kiến thức mà tôi đạt được sẽ tồn tại mãi nơi tôi trọn đời.

KIỀU NGÂN

 

 
Copyright © 2008 Viettoc. All Rights Reserved. Viettoc Foundation is a 501 (a)(3) non-profit organization with the tax-exempt IRS-EIN number 52-2280660