|
Khi tôi
quyết định tiến hành chuyến đi,
tôi không
có ý tưởng về điều gì
đó đến với tôi; tất cả
điều tôi biết là mục tiêu cuộc sống trong lòng tôi là giúp
người, và bước đầu tiên được thực hiện như thế. Trước khi bước
vào hành trình, chúng tôi phải phân chia qùa tặng để phân phối
riêng cho từng vùng chúng tôi sẽ đến thăm. Lách vào phía sau xe
buổi sáng sau đó, những cảm giác như quyện vào không khí. Tôi
cảm thấy hồi hộp, lo ngại và rối bời tât cả ập đến, bởi vì tôi
chưa bao giờ gặp người miền núi. Tôi sẽ gặp ai đây? Họ như thế
nào ? Điều gì xẩy đến với tôi? Làm sao tôi nói chuyện với họ?
Làm sao tôi đương đầu ? Có thể nào tôi thích nghi với lối sống
của họ? Họ có thích tôi không? Tôi có thích họ không? Đó là
những câu hỏi quay cuồng trong đầu tôi. Chuyến xe thì dài và
xóc; khi chúng tôi nhìn thấy bụi đỏ quanh mình tôi nghĩ chúng
tôi gần tới , nhưng không gần như thế. Chỉ có một điều giữ cho
tâm trí tôi khỏi buồn chán là ngắm cảnh và nghe kể chuyện từ Cha
Vang và Chú Thiện. Chúng tôi rời Saigon vào khoảng 7 giờ sáng
và đến Pleiku vào khoảng 9 giờ tối; Cha Chiến và Sơ Hằng thân
thiện đón chúng tôi, và chúng tôi ăn bữa tôi được sửa soạn sẵn
bởi họ biết chúng tôi sẽ dến.
Buổi sáng kế tiếp chúng tôi tham dự hai thánh lễ
khác nhau; một dành cho trẻ em lúc 7 giờ sáng và lễ tiếp theo là
cho người lớn bắt đầu lúc 10 giờ. Thánh lễ của họ thì rất khác
với thánh lễ chúng ta ở đây. Trẻ em tất cả dõi theo kinh thánh
rồi đọc theo Cha Chiến công bố Tin Mừng. Các em yêu thích và
mong muốn đến nhà thờ, không giống như chúng ta ở đây bị bắt
buộc đến nhà thờ mỗi Chúa nhật. Đối với người lớn, phụ nữ thực
hiện vũ điệu tại ghế của họ và đàn ông vỗ tay theo khi họ
hát, các nhạc cụ họ sử dụng âm điệu rất dễ chịu với những cái
tai. Mọi người trong nhà thờ tham gia một cách sống động suốt
trong thánh lễ; đây là thánh lễ đầu tiên mà tôi không buồn ngủ.
Điều lý thú tôi thấy trong thánh lễ là cầu nguyện lớn tiếng với
Chúa Giê su; nhưng thay vì nguyện xin, họ cám ơn Người về những
gì Người đã cho họ. Khi thánh lễ kết thúc, chúng tôi sẵn sàng và
tiến hành lên đường lần nữa; nơi dừng kế tiếp của chúng tôi là
Ayunpa.
Buổi sáng tiếp theo chúng tôi thăm làng phong cùi;
trên tuyến đường đi tôi đã nhìn thấy rất nhiều nhà gỗ mà người
dân tộc cư trú. Khi chúng tôi rẽ vào đường đến làng, tôi có thể
nhìn thấy căn nhà có những k he nứt
giữa hai tấm gỗ và bạn có thể nhìn vào trong nhà. Ngay lập tức
tôi chạnh lòng, họ có cuộc sống như vậy sao và chắc rằng tôi
không thể sống một cuộc sống giống như thế này. Đây là lần đầu
tiên tôi có sự tiếp xúc gần gũi với những người bệnh phong cùi;
những trẻ em đã không chọn để có điều kiện này nhưng cha mẹ
các em đã truyền lại cho các em. Nhìn vào những con mắt vô tội
làm cho tôi cảm thấy bất lực; không có gì tôi có thể làm để chấm
dứt bi kịch mai sau mà các em đã tiếp cận. Tất cả chúng ta có
thể làm bây giờ là đem vào cuộc sống các em càng nhiều nụ cười
Các em vui khi chúng tôi trao kẹo, những con thú bằng
vật liệu, và những trái bong bóng; với một vật dụng không gía
trị chúng tôi có thể nhận được tiếng cười của các em, một bảo
vật vô gía. Tôi sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm của ngày đó.
Trẻ em tụ tập quanh tôi chờ đợi tôi cho qùa; ôi những giao động
trong không khí trên các em được trộn lẫn với mùi của đất và mồ
hôi. Hình ảnh của các em chạy về phía tôi để bắt tay là điều
khắc ghi trong đầu tôi, bởi đó là dấu hiệu các em không e ngại
tôi mà mở rộng vòng tay cho tôi bởi thế tôi có thể để các em
mượn bàn tay đỡ đần của tôi.
Chiều hôm đó là lần đầu tiên của tôi qua đêm tại một
làng ở Krong Pa. Tôi ở tại nhà của Trâm 4 ngày và 4 đêm; gia
đình Trâm sống trong ngôi nhà gỗ thuộc nếp xưa được xây dựng
thủ công. Trâm và gia đình rất tử tế và đón nhận tôi vui vẻ;
chúng tôi là những người xa lạ và hơn thế họ còn níu tôi vào
cánh tay yêu thương của họ. Tôi có niềm vui lớn trong lúc ở đó.
Tôi tham gia công việc đồng áng; tôi giúp cắt lúa ngoài đồng, và
ngắm họ chăn bò trên mảnh đất trống.
Gặt lúa là việc nhọc nhằn vì nó liên quan tới lưng
còng xuống, bị thiêu đốt dưới mặt trời, và chân của bạn dính
chắc trong bùn. Tôi chứng kiến một đám ma trong làng và theo
chân lấy nước. Đám tang thật đơn giản, đêm trước khi quan tài
được chôn, mọi người trong làng qui tụ tại gia đình để cầu
nguyện. Có nhạc và múa thâu đêm; người ta canh thức suốt đêm để
an ủi gia đình thân nhân mất. Tôi có dịp bước xuống bờ đá nơi
dân làng lấy nước uống. Thật khó cho tôi bước lên xuống bờ dốc
đó, nhưng hết sức dễ dàng cho những cô bé đang lấy nước ở đó.
Cô bé gùi những bình nước nặng trĩu trên lưng trong lúc bước
lên đồi, và cái cảnh thồ với xe đạp của cô bé là một cảnh tôi
chẳng thể quên. Ở độ tuổi non nớt cô bé đã gánh vác việc nhà
rồi trong lúc những đứ trẻ may mắn chơi đùa và sống một cuộc đời
vô tư. Người dân trong làng sống cuộc đời rất đơn giản; họ giúp
nhau thu hoạch trên đồng đổi lại việc giúp của họ dành cho lúc
cần thu gom mùa màng riêng mình. Trẻ em không thể đến trường sẽ
chăn bò hoặc tìm việc khác phụ vào ngân quĩ gia đình. Người dân
để ý đến môi trường, họ không dùng phân hóa học cho cây trồng;
họ chỉ dùng phân bò. Họ có mảnh vườn riêng cho phân người và
không bốc mùi. Đêm trước khi tôi xa làng, nhóm cầu nguyện đặc
biệt tụ họp để nói lời chia tay. Tại buổi họp mặt, chúng tôi đã
hát, chia sẻ những câu chuyện cuộc sống , và trao đổi địa chỉ
để giữ liên hệ. Tôi có khoảnh khắc rất đáng nhớ đêm đó, và sẽ
ghi nhớ tình bạn bè nồng ấm mà tôi đã gây dựng ở đó.
Nơi dừng chân sau cùng của tôi là trở lại Pleikly
nơi thánh lễ Kỷ niệm 40 năm diễn ra. Lễ hội rất sống động với
nhiều hoạt động và món ăn ngon; có khoảng sáu ngàn người tham dự
biến cố này. Có ca múa, và mọi người nói chuyện thân thiện quanh
bạn. Tôi đã làm quen với vài người bạn dịp này và giữ liên lạc
trong thời gian ở Việt nam. Từ cuộc hành trình này tôi nghiệm
thấy sự quan trọng của việc cung cấp kiến thức cho người dân tộc
để họ có thể tự bảo vệ chống lại một chính quyền tham lam muốn
chiếm đất đai và tự do của họ. Tôi phải nói rằng đây là hành
trình về Việt nam tốt nhất mà tôi chưa từng có được; kinh nghiệm
và kiến thức mà tôi đạt được sẽ tồn tại mãi nơi tôi trọn đời.
KIỀU NGÂN
|