|
Câu Chuyện Của Làng Phong Cùi Plơi Knot
Đường đi Plơi Knot bây giờ không còn như ngày
xưa, đường rộng hơn, dễ đi
hơn. Nhớ mấy năm về trước mỗi lần đi
thăm các bệnh nhân cùi ở làng Plơi Knot là một lần khám phá ra
một con đường mới. Chưa có lần nào lối đi trùng với lối về, bởi
vì đi toàn đường rừng. Gọi là làng nhưng Plơi Knot chỉ có 11 hộ
gia đình của 10 bệnh nhân cùi sống với nhau trong một khu rừng,
tách biệt hẳn với các làng khác. Không biết những người này sống
với nhau từ bao giờ, nhưng cách đây hơn 10 năm họ đã phải dời
làng 2 lần. Ngày trước họ định cư ở một vùng đất khác, mỗi khi
trong làng có 2 hay 3 người chết liên tiếp nhau, họ cho rằng nơi
đó đất không lành, nên dời làng đi nơi khác. Mỗi lần như vậy họ
lại càng vô sâu trong rừng hơn. Vì ở sâu trong rừng nên cuộc
sống của họ bị cô lập gần như hoàn toàn, không trường học, không
chợ búa, không mua bán. Cả làng không ai biết chữ. Cứ như thế họ
vẫn sống bình an vui vẻ với nhau, thức ăn của họ là những cọng
rau rừng, những con ếch, con nhái, con chuột hay bất cứ con gì
mà họ bắt được. Chỉ có vài thanh niên thỉnh thoảng ra thị trấn
Phú Thiện để mua những thứ cần thiết, còn người già và trẻ nít
quanh năm chỉ ở trong làng và ngoài rẫy. Nguồn nước sinh hoạt
của họ là con suối rất nhỏ nằm ở bìa làng. Mùa khô nắng con suối
này chỉ còn là một vũng nước tù rất nhỏ, đục sệt, đen ngòm. Cả
làng, từ lớn đến bé, từ già đến trẻ, kể cả heo, bò đều tắm
chung trong vũng nước đó. Năm trước, trong một lần đi thăm các
bệnh nhân phong cùi của làng này, Cha Trần Công Vang (Việt Tộc)
đã ngậm ngùi chứng kiến cảnh
người và
súc vật cùng bơi chung trong một vũng ….bùn, họ còn thiếu thốn
mọi sự khác nữa. Cha Vang đã hổ trợ kinh phí để đào cho làng một
giếng nước. Sau một thời gian ngắn, giữa làng đã có được một
giếng nước, nước thật nhiều và thật trong. Làm sao diễn tả hết
được niềm vui của những người dân làng. Họ không bao giờ ngờ
làng họ sẽ có giếng nước. Vì đó là điều vượt khả năng và ngoài
sự tưởng tượng của họ. Từ nay họ sẽ không còn sợ thiếu nước nữa.
Nhưng vui chưa được bao lâu thì Plơi Knot được lệnh phải dời
làng. lần này họ bị bắt buộc chứ không tự động dời như những lần
trước. Họ buồn và tiếc nhất là cái giếng nước. Nhà cửa họ có thể
dời đi được, các đồ dùng khác đều có thể đem theo được, nhưng
cái giếng họ không thể nào mang theo. Họ bảo với Amị Tài là một
nữ giáo phu thường tới thăm họ hãy mua lấy đất đó dể làm rẫy và
giữ lại cái giếng đó. Nhưng bây giờ khu rừng đó đã được bán cho
một đại gia, và giếng nước đã bị đập phá không còn vết tích. Về
làng mới, dân Plơi Knot lại rơi vào tình trạng không có nước
sinh hoạt. Nhà nước có khoan giếng nhưng làng không có điện nên
không thể bơm nước lên dùng. Con suối gần đó thì làng bên cạnh
không cho họ lấy nứơc chỉ vì họ là những người phong cùi, người
ta sợ lây nhiễm. Biết bao giờ những người dân làng Plơi Knot mới
có được một cuộc sống an ổn và được đáp ứng những nhu cầu tối
thiểu? Bao giờ họ mới có nước sinh hoạt?
Chư Mố là một xã của Huyện Ia Pa, bao gồm rất nhiều làng ở gần
nhau và có chung tên gọi là Plơi Pa, nhưng mỗi làng có tên gọi
riêng nữa (như Plơi Pa Kranh, Plơi Pa Ơi H’Briu, Plơi Pa Ama Đá
.....) cách Thị xã Ayunpa khoảng hơn 15km. Từ Ayunpa ngó vọng
sang, Chư Mố nằm khuất sau một ngọn núi nhỏ. Người dân ở đây
sống bằng nghề nông nhưng không có ruộng, chỉ làm đất rẫy. Họ
trồng đậu, bắp, mì, cũng có lúa nhưng không nhiều, tất cả đều
trông chờ vào ơn trời nắng thuận mưa hoà. Những bệnh nhân phong
cùi sống rải rác khắp các làng.
Từ Chư Mố về Ayunpa chưa có tuyến xe chạy, nên mỗi khi đi chợ,
đi Nhà thờ... thì đi bằng Honđa (rất ít), xe đạp, và cũng còn
khá nhiều người đi bộ. Đường đi thì nắng bụi mưa sình, nhưng có
những người không ngại ngùng vượt đường xa, đường khó đưa con em
đến Trung Tâm Ayunpa tham dự khoá học hè. (Hai năm nay, tại
Trung Tâm Cheoreo – Ayunpa mở lớp học hè cho các em hoc sinh các
buôn làng xung quanh).
Tôi thật là thương khi nhìn thấy một ông già mỗi buổi sáng chở 2
em nhỏ trên một chiếc xe đạp cà tàng đến Trung Tâm cho các em
học rồi trưa lại đến đón về. Đó cũng là niềm vui lớn cho những
ai thao thức với việc học vấn của các em, vì nói chung người
Jrai rất ít ý thức về việc học hành của con em mình, họ có thể
cho con em mình nghỉ học bất cứ lúc nào. Họ thấy cái chữ không
quan trọng, không cần thiết bằng những công việc, những đồng
tiền ít ỏi mà các em kiếm được khi bỏ học. Phải chăng cái đói,
cái nghèo đã tạo cho họ những quan niệm như vậy?
Cái đói, cái nghèo có thể làm cho họ có những quan niệm không
đúng về việc học hành của con cái, nhưng cái đói cái nghèo đó
không làm mất đi nơi họ nét đẹp của người Jrai là lòng hiếu
khách. Một buổi trưa hè nắng cháy bỏng, bốn người trên hai chiếc
Honđa (Cha Vang, chị Xuân, chị Lề và tôi) đến thăm các em học
sinh trong chương trình bảo trợ của Việt Tộc tại Chư Mố (hơn 40
em).
Trời nắng, mệt, nhưng cảm thấy vui, vì khi đến nơi đã thấy các
em và cha mẹ các em tập họp đông đủ, họ rất vui khi có Cha và
Soeur đến thăm. Cha Vang thăm hỏi, động viên và khích lệ các em
học tập. Nhìn gương mặt hớn hở và rạng rỡ của mọi người, tôi
biết họ vui lắm.
Trong khi tất cả mọi người ngồi chung quanh Cha, chị Xuân để trò
chuyện, thì lại có vài người âm thầm chuẩn bị cơm nước. Khi ra
về, mặt dù rất vội nhưng không thể nào từ chối bữa cơm đầy tình
thương và lòng mến khách của bà con. Cơm nước được dọn ra rất
nhanh, bữa cơm khách chỉ có món lá mì nấu với cà, chén nước mắm,
nhưng sao thấm đậm tình người. Thật là tiếc vì phải về cho kịp
thánh lễ vào lúc 5 giờ chiều, nên chúng tôi vội vàng dùng cơm
như là ăn lễ Vượt Qua của dân Do Thái vậy.
Chúng tôi ra về trong sự luyến tiếc của các em học sinh và của
cha mẹ các em. Hy vọng những lời nhắn nhủ ân cần và đầy tình
thương của Cha Vang, của chị Xuân sẽ là động lực giúp các em can
đảm hơn trong năm học tới, và cha mẹ các em cũng sẽ ý thức hơn.
Sr. M. HUỆ, SPC

|