|
SỨ-VỤ JARAI
1.
“Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý
do để tự hào, mà đó là một sự cần
thiết bắt buộc tôi phải làm” (1Cr 9,16). Có thể có
người nhận thức rằng việc rao giảng TM là một sự cần thiết cho
mình và cho người khác nên vì thế mà họ làm. Còn tôi lại nghĩ có
những việc cần thiết, rất cần thiết, cho tôi và cho những người
khác mà tôi vẫn không chịu làm. Cho nên việc rao giảng TM tuy
tôi cũng đã nhận ra là cần thiết cho tôi và cho những người khác,
tôi vẫn thấy cái phần bắt buộc nó mạnh hơn.
Không bắt buộc sao
được khi gần 20 năm (1969-1987) hầu như chẳng có ai theo Đạo cả
! Cứ đi cuốc đất làm rẫy miết ! Nếu được tự do (nghĩa là không
bị bắt buộc) thì chúng tôi đã xin hay được yêu cầu đổi đi chỗ
khác. Và đúng như vậy, vào những năm 1985-1987, Đức Cha Alexis
yêu cầu chúng tôi sẵn sàng đi nhận nhiệm-sở An-Khê (vì Cha Thiệp
mới qua đời). Giáo-Phận thiếu LM, không lý do gì ở một vùng như
Pleikly-Phú Nhơn chỉ có mươi người Jarai theo Đạo (do các LM ở
các nơi khác thanh-tẩy) với ba bốn trăm giáo dân người Kinh ở
rải rác trong vòng 30km, mà lại có tới hai ông cha ! Và không
biết tại sao CQ lại chấp nhận để Cha Tường được đổi đi An-Khê,
còn tôi (bị bắt buộc) ở lại ! Mặc dù cả hai chúng tôi đều có tên
trong danh sách đề nghị. Mặc dù Cha Tường có thưa với ĐGM khi
được hỏi ý kiến trước đó : “Chỉ vì vâng lời Đức Cha, chứ lòng
con không muốn !” Cả hai chúng tôi đều sẵn sàng vâng lời ĐC, chứ
lòng mình không muốn đi xứ (như vậy là bị bắt buộc rồi). Nhưng
Cha Tường đã ra đi (để chịu khó thay tôi). Nếu Cha Tường ở lại,
khi hằng ngàn người Jarai xin theo Đạo thì không biết sẽ ra sao,
vì Cha Tường hơn tôi về mọi mặt, nhưng lúc đó nhất định thua tôi
về tiếng Jarai ! Từ đó đến nay (2003), riêng trong vùng
PleiKly-Chư Sê đã có 9.197 người Jarai lãnh nhận các Bí-Tích
nhập Đạo, ở trong 90 buôn làng khác nhau, xa nhau nhất cũng tới
cả trăm cây số. Trước khi họ vào Đạo, chúng tôi chẳng biết họ,
họ chẳng biết chúng tôi. Chúng tôi chẳng được phép đến với họ .
. .Thế mà họ vẫn cứ tìm Đạo và theo Đạo ! Ai cũng hỏi tại sao ?
Chắc chắn không phải tại chúng tôi (như rất nhiều người trong và
ngoài Giáo-Hội nghĩ như vậy) vì chúng tôi mới biết đến có hai ba
làng, vì chúng tôi không được phép làm gì cả, không được phép đi
đâu, chúng tôi lại thiếu thốn trăm bề. Có người đưa ra những
giải thích có tính tâm-lý, xã-hội và cả chính-trị nữa. Nhưng
những nguyên nhân tâm-lý, xã-hội, chính-trị thì thời nào mà
chẳng có. Trong thời kỳ chiến tranh trước đây tưởng cũng có rất
nhiều lý-do tâm-lý, xã-hội, chính-trị để nhân dân theo Đạo chứ.
Riêng dân Jarai đã trải qua hơn 150 năm với sự hiện diện của các
thừa-sai, vẫn theo Đạo rất ít. Chẳng nhẽ trong hơn 150 năm đó họ
không có những lý-do tâm-lý, xã-hội, chính-trị ... để mà theo
Đạo hay sao ? Nếu chỉ nói đến những lý-do tâm-lý, xã-hội,
chính-trị e rằng có hơi bất công đối với cái thời độc-lập, tự-do,
hạnh-phúc này ! Chẳng lẽ thời này, nơi tất cả các dân-tộc, người
ta lại cần đến thứ thuốc phiện tôn-giáo đến thế ?! (cho dù bây
giờ không ít người lại nói rằng đó là thứ thuốc phiện có ích . .
. với điều kiện !). Nhưng dù sao thì lại vẫn còn phải giải thích
(không cùng) tại sao càng tiên-tiến, càng hiện-đại lại càng thấy
nhiều thuốc phiện, xì-ke, ma-túy đến thế (và lần này là những
thứ thực sự độc hại) !
Từ 1987 tôi từ giã
chài lưới, tôi từ giã rẫy nương, trực tiếp phục-vụ Lời (nói theo
kiểu Cv 6,4). “Lời Thiên Chúa hằng lớn lên . . . số các môn-đệ
tăng lên rất nhiều” (Cv 7,7). Chúa chữa lành bệnh tật cho tôi.
Chúa ban có nhiều anh chị em tham gia phục-vụ Lời mọi nơi, mọi
lúc. . . Nhưng tôi vẫn băn khoăn . . . Ngay từ những năm 90, tôi
than với Cha Phán : - “Mình cảm thấy xa dân, ngoài dân . . .
Mình không thích.” Cha Phán la tôi, bảo không sống theo thời
điểm Chúa ban . . .” Cha Phán trước đó cũng tham gia hợp tác xã
nông nghiệp với dân Jarai ở Ayun-Pa trong gần 20 năm. . . Có lần
không hiểu tại sao tôi lại than với cả Đức Cha Phêrô : “. . Làm
lễ không cũng hết ngày hết giờ . . . .” Đức Cha la : “Còn gì
quan trọng hơn thánh lễ, mà sao Cha nói thế ?”. Nói thế để thấy
sống và làm việc như hiện tại cũng là phần bắt buộc.
Lòng tôi còn ước mơ bao điều khác nữa . . .
2.
“Ngôi Lời đã thành xác phàm và ở cùng chúng tôi” - et habitavit
in nobis ?(ở giữa, ở trong ?) (Ga 1,14). Tuy già rồi, nhưng tôi
vẫn ao ước làm lại từ đầu : làm lại từ Nazareth. Tôi có nói với
BT của tôi : Như Cha Anphonsô, tôi thích Scala hơn Nêapôli. Dĩ
nhiên BT muốn sai tôi đi đâu thì sai. Nhưng lòng tôi thì luôn
luôn thích Scala (thôn dã) hơn Nêapôli (thành phố), thích
Nazareth (nhỏ bé, bên lề) hơn Yêrusalem (thủ-đô, trung-tâm). Tôi
không an lòng khi loan báo Tin Mừng từ “bên ngoài”, từ “bên trên”.
. Chúa Yêsu không làm thế. Ngài đã thành Do-Thái với Do-Thái,
trở nên yếu với kẻ yếu, đã trở nên tất cả với mọi người . .
.(1Cr 9,19-23). Còn bây giờ tất cả anh em trong Nhóm PleiKly, vì
hoàn cảnh bắt buộc, không được sống như thế nữa!
Chắc chắn là phải có người sống thế này, người sống thế kia, tùy
đối tượng. Nhưng dẫu sao thì hiện nay mọi người (đại đa số) đều
sống thế này chứ không không sống thế kia ! Thiếu người “ở cùng”,
thiếu người “ở trong”. Mà đối tượng mình cần ở cùng lại chiếm
tuyệt đại đa số : 99%. Mà cho dù chỉ có 1%, thì chúng ta đã biết
Chúa Yêsu cũng chọn đi theo 1% ấy (Lc 15,4). Vào cái thời “không
biên giới” này, vào cái thời “không giai cấp” này, có chăng một
cách loan báo TM nào đó không phải từ “bên ngoài”, cũng chẳng từ
“bên trên”, nhưng từ “bên trong” - và bởi những người từ bên
trong ? Hiện nay chúng tôi tự an ủi là tuy mình phải ở ngoài dân,
nhưng anh chị em giáo dân đang ở trong dân, họ thay mình ở trong
dân, họ không phải làm dân với dân như mình, mà họ là dân, họ là
Yêsu ở cùng và ở trong dân . . . Dân nghèo loan báo TM cho dân
nghèo, người Jarai loan báo TM cho người Jarai . . . Có cái gì
đó như thuở ban đầu . . . Có cái gì đó như Yêsu . . . Một chút
ủi an - tuy vẫn chưa phải chính mình được như thế.
LOAN BÁO TIN MỪNG TỪ
BÊN TRONG. Và chúng ta nghĩ ngay là chúng ta nói. Thật ra thì
bây giờ chúng tôi nói hơi nhiều! Thuở ban đầu không phải như thế.
Chúng tôi đã có gần 20 năm không nói. Yêsu có hơn 30 năm không
nói ở Nazareth. Nghĩa là không công khai trực tiếp loan báo TM.
Thuở ban đầu Nhóm Pleikly không phải là một nhóm truyền Đạo (chúng
tôi đã không dùng tiếng truyền giáo ngay từ ban đầu). Từ ban đầu,
Nhóm Pleikly trước tiên là một Nhóm Tầm Đạo. Cho chính mình.
“Chúng con là dòng giống kiếm tìm nhan thánh Chúa”. Mãi mãi đi
tìm nhan thánh Chúa. Vốn đã là như thế. Lại càng là như thế khi
chúng tôi cận kề thời sau Công-Đồng Vaticanô II. Đó là thời
agiornamento (canh-tân, cập-nhật-hoá). Đó là thời đặt lại mọi
vấn-đề, triết-học, thần-học, nhất là vấn-đề Giáo-Hội, vấn-đề đời
tu (cho đến bây giờ chưa chắc chúng ta đã thống nhất được đời tu
theo TM là gì) . . . Tôi xin mượn lời Cha Maurice Zundel (một
người có ảnh hưởng lớn vào thời của ngài - 1897-1975 - và cả
hiện nay - năm 1972 đã được Đức Phaolô VI mời giảng mùa Chay tại
Vatican) để mô tả Đạo CG thời chúng tôi : “Bối cảnh Đạo CG rất
là nghi-thức. Giới CG là một giới dễ dãi chẳng làm cho người ta
dấn thân vào một cái gì cả, chỉ cần nhớ một mớ công thức
phụng-tự là lấy làm thỏa mãn lắm rồi . . . Có thể tóm gọn trong
việc giữ Đạo mà chẳng cần tới một cảm nghiệm nào về Thiên-Chúa
cả. Các công-thức thì rất chính xác, và như vậy là được chấp
nhận, nhưng đó chỉ là những công-thức chết. Lo rỗi linh hồn là
phụ họa theo một số công thức đã được chọn sẵn” , , ,(Un autre
regard sur l'homme - Ed. Le Sarment 1996, p.17).
Tên ban đầu của chúng tôi là
Nhóm Ra Đi. Ra đi khỏi một cái gì đó, có khi là chính mình (chí
ít cũng để một lần nghiệm ra rằng có thể ra đi rất xa mà vẫn
chưa ra khỏi chính mình), ra đi khỏi một Giáo-Hội nào đó, ra đi
khỏi một lối tu nào đó . . . Ra đi để tìm Chúa. Ra đi tầm Đạo để
có thể tu Đạo (mà tu Đạo lại là tầm Đạo không ngừng). Chúng tôi
ra đi mà không biết đi về đâu. Lúc đó chúng tôi chưa biết người
Jarai là ai. Cứ ra đi cái đã. Vì là DCCT nên chúng tôi được kêu
gọi đi tìm Chúa nơi những người “cô thân tất bạt - những người
bị bỏ rơi hơn cả”. Vì Tin Mừng được loan báo cho người nghèo hèn
(Lc 4,l8). Vì Nước Trời là của người nghèo hèn (Mt 5,3). Vì Nước
Trời được ưu-tiên mạc-khải cho người nghèo hèn (Lc 10,21). Phải
đến với người nghèo hèn thôi. Chính mình phải trở nên nghèo hèn,
phải nhờ đến ngưới nghèo hèn. Khi tiếp xúc với họ rồi chúng tôi
càng xác-tín rằng Chúa đã có đó, ở đó với họ trước chúng tôi.
Chúa cũng là Đấng tạo-dựng ra họ theo hình ảnh Người. Hình như
nơi họ hình ảnh ấy còn trong sáng hơn ở nơi chúng ta, đỡ bị bóp
méo hơn, đỡ bị tô vẽ bằng đủ thứ triết-thuyết lý-luận nào là La-Hy,
Âu-Á, cồ-đại hiện-đại . . . đến độ vào một lúc nào đó con người
chúng ta có thể nói: không có Chúa ! Các dân-tộc thiểu-số chưa
đạt tới độ “văn-minh” ấy, một nền văn-minh muốn khẳng định chính
mình bằng cách phủ-nhận chiều kích linh-thiêng nhất của mình,
chiều kích nối mình với Đấng Linh-Thiêng, với giới linh-thiêng -
và như vậy lại là phủ-nhận chính mình (chỉ còn phần tro bụi).
Các dân tộc còn sống cái chiều kích linh-thiêng của họ trong
suốt đời của họ, từ trước khi sinh ra cho đến sau khi chết. Chúa
đã ở cùng họ trước chúng tôi. Ngay từ đầu chúng tôi đã nhủ nhau
: đi tìm phần Cựu-Ước nơi họ. Vì họ chỉ còn thiếu phần mạc-khải
của Chúa Yêsu-Kitô trong Thần-Khí của Ngài. Phần này lắm khi
chúng ta cũng thiếu, bởi vì chúng ta vẫn “Đạo Đức Chúa Trời”
nhưng không đạo theo Thần-Khí của ĐYK (Ga 4,23-24), không thờ
Thiên-Chúa của ĐYK (Ga 20,17). Vậy là nhờ họ, với họ, chúng tôi
đi tìm Thiên-Chúa của ĐYK.
Năm 1969, Cha Antôn
Vương-Đình-Tài đang phục-vụ một giáo-điểm người Kơho trong vùng
Phi-Yang (Phú-Sơn - Đàlạt). Tình hình chiến sự những năm
1965-1968 rất ác liệt khiến người dân chạy loạn dồn về vùng
Phi-Yang (Dà-Mpao, Rơlơm). Các thừa-sai cũng bị dồn cục như vậy
có cả chục người. Nhiều cơ-sở đã bị phá hủy. Công việc không có
bao nhiêu. Cha Tài xin BT cho ra đi tìm một địa điểm mới. Ngài
đi tới những giáo-điểm ngoài địa-phận Đà-lạt. Thăm giáo-điểm
người Chăm của các Cha Phanxicô. Đến Dòng Biển-Đức BMT để tiếp
cận với người Êđê. Vùng này có nhiều bạn bè và họ hàng đồng
hương Nghệ-Tĩnh có thể hỗ trợ đắc lực. Nhưng ĐC Mai tỏ vẻ không
mặn mà lắm với DCCT. Cha Tài theo đường 14 đi tiếp lên phía
Pleiku-Kontum, ghé thăm một người bạn học cũ đang phục-vụ
giáo-điểm Cheoreo, Cha P. Vũ-Văn-Thiện, xuất thân từ DCCT. Lúc
đó chúng tôi mới bắt đầu biết đến người Jarai. Cha Tài lên gặp
ĐC Phaolô Kim, được ngài hoan hỷ đón nhận. Và ngày 10/10/1969,
chính ĐC cùng với Cha Vũ-Khắc-Minh lái xe đưa chúng tôi về
Pleikly không nhà, không cửa, không mang theo gì cả. ĐC đọc đoạn
TM Lc 10,1-12, cầu nguyện và chúc lành cho chúng tôi rồi nói :
“Bây giờ các anh có bốn người, nếu DCCT đưa lên đây 72 người như
trong bài TM, tôi cũng nhận”. . . Sau đó ngài lên xe trở lại
Kontum. Trời đã về chiều. Không ai dám cho mấy kẻ lạ mặt này trú
ngụ cả. Người ta chỉ cho chúng tôi một căn phòng đầu trường làng
vốn là nơi trú đêm của đàn dê trong làng. Chúng tôi dành chỗ của
chúng và phải quét dọn mọi thứ phế thải của chúng. Thế là chúng
tôi bắt đầu được làm dân với dân, được làm Jarai với Jarai. Mãi
tới năm 2001, chúng tôi mới biết đến hai lá thư ĐC Phaolô Kim
viết cho DCCT từ 1953, lặp lại năm 1956, kêu gọi DCCT lên
cộng-tác với GP Kontum phục-vụ người thiểu-số (xin coi tài liệu
đính kèm). Vậy ra con đường chúng tôi đi, đâu có phải con đường
chúng tôi “tự ý” (1Cr 9,17) lựa chọn : có Ai đó đã chọn cho
chúng tôi rồi (Ga 15,16) !
Tháng 3 năm 1971, tức 17 tháng
sau khi tới Pleikly thì có đánh lớn tại vùng Phú Nhơn Pleikly.
Chúng tôi bị quân CM bắt đem vào rừng sâu (bấy giờ thì chúng tôi
biết là ở bên kia biên-giới Cambốt). Bị cùm hai tháng liền. Bị
tra hỏi. Bị sốt rét. Giờ lao-động là giờ hạnh-phúc vì không bị
cùm và không bị tra hỏi. Bốn tháng sau người ta cho chúng tôi về
: một cử chỉ đoàn kết toàn dân chống Mỹ cứu nước. Thầy Marcô Đàn
vĩnh viễn nằm lại trong rừng sâu. Thầy chết vì sốt rét (lúc 0giờ
5phút ngày 12/5/1971) sau khi đã cứu chữa cho nhiều người. Thầy
được phúc chết trong khi thi hành sứ-vụ TM và chết như một người
nghèo nhất: trên người chỉ có tấm áo dòng, chôn không quan tài.
Chỉ có tôi tham gia vào việc đào huyệt chôn Thầy vì lúc đó Cha
Mầu cũng sốt rét đang trong cơn hôn mê. Ai trong chúng tôi cũng
nghĩ lần lượt mình cũng sẽ nằm xuống như thế. Khi họ thả chúng
tôi về cuối tháng 7, thì cuối tháng 8, Cha Tài, Cha Phán lại bị
bắt. Nhưng chỉ một tuần sau thì được thả. Như thế cũng đủ phá
bình địa mấy căn chòi Cha Tài dựng lên tạm bợ sau cuộc chiến
tháng 3/1971. Chúng tôi phải kéo nhau về Cheoreo tạm trú. Trong
vòng hơn một năn rưỡi ở Cheoreo, chúng tôi tổ chức cùng anh chị
em Jarai phiên dịch toàn bộ cuốn Tân-Ước ra tiếng Jarai. Đó là
công-việc duy nhất tuy bất toàn nhưng hữu ích còn tồn tại. Khi
anh chị em Jarai trở lại theo Chúa thì đó là cuốn sách duy nhất
mà chúng tôi sử dụng. Nếu không có cuốn sách đó thì chúng tôi
không biết sẽ làm ăn ra sao. Điều duy nhất Chúa cho chúng tôi
làm là chuẩn bị để Dân Chúa nghe Lời Chúa và học cùng Ngài. Năm
1973, chúng tôi trở lại Pleikly, chưa làm được gì thì giải-phóng
1975, để lại chỉ làm dân với dân và làm . . . thinh ! Cấm truyền
Đạo ! Cấm làm lễ ngoài xã phường nơi thường trú ! Lúc đó phía
Jarai trong vùng chỉ có 3 gia-đình thanh-tẩy : gia-đình Ami'
H'Mi, gia-đình Ami' H'Dar do Cha Tài thanh-tẩy tại Pleiku,
gia-đình Ami' H'Xuân do Cha Bianchetti thanh-tẩy tại BMT. Thế là
cứ rẫy nương và chài lưới ! Và nghe akhan (truyện
dân gian), nghe cồng chiêng, nghe ca hát, nghe phai-yang(cúng
thần), nghe phat-kơđi(xét xử) . . . Ôi những áng
văn-chương, những dòng tư-tưởng, những điệu nhạc Tây Nguyên,
gru ama grua ami' (dấu ấn của cha tinh-hoa của mẹ) .
. . cho một mình tôi bây giờ là kẻ “ngoại đạo” ! Tôi không có óc
khoa-học đủ, không có óc nghiên-cứu đủ, nhanh nhạy đủ để thu tất
cả vào băng, vào giấy! Tiếc ôi là tiếc! Lúc đó tôi đúng là chân
lấm tay bùn mất rồi! Tôi đã trở thành một người Jarai thực thụ
nghĩa là một người chỉ sống và suy nghĩ bằng cái lỗ tai của mình
thôi ! Một nền văn-minh của lỗ tai! . . . Cho đến những năm
chuẩn bị Năm Thánh 2000: Năm Thánh Đức Mẹ 1985; Năm tấn phong
các Thánh Tử-Đạo VN 1988. Vào những năm đó bỗng nhiên tất cả các
dân-tộc ít người trên đất nước VN đều đứng lên tìm theo Chúa.
Tôi nói ở khắp mọi nơi, chứ không riêng gì ở vùng Pleikly chúng
tôi. Cho nên xin đừng gán cho chúng tôi công cuộc trở lại này!
Người thương thì khen (cũng thích), kẻ ghét thì bực (cũng ngại).
Nhưng không phải chúng tôi mà! Chúng tôi chỉ quen biết có hai ba
làng ở gần chúng tôi thôi, chứ không phải 90 làng có người đến
với chúng tôi bây giờ. Mà những người ở gần chúng tôi lại trở
lại chậm và ít hơn những người ở xa ! Lại còn phía Cheoreo-Tơlui'
có cả 150 làng, cũng chừng đó phía Pleiku, Măng-Yang, Chư-Prong,
Chư-Pah . . . Chúng tôi đâu có biết người Khơmer, người Stiêng,
Mơnông, Raglai, Churu, Êđê, phía Nam, người Chăm, người Bahnar,
Sơđăng, Jeh, Bru . . . chúng tôi đâu có biết đến người Mường,
người Mèo, người Hmông . . . phía Bắc ! Ấy thế mà họ đều đứng
lên tìm Chúa, tìm Đạo ! Rõ ràng không phải tụi tôi. Khi chúng
tôi nói tại Đức Mẹ, tại các Thánh Tử-Đạo thì không ai tin cả !
Cứ gán cho chúng tôi rồi hạch hỏi và đe dọa : tuyên truyền làm
sao ? dụ dỗ làm sao ? bắt tù à ! - Tụi tôi chẳng có gì để mất cả
! Khi người ta xin theo Đạo, chúng tôi bắt buộc phải nhận. Khi
nhận thì phải hướng dẫn tối đa. Đã là tín-hữu thì khi người ta
đã kêu, là đi, đi tới đâu cũng đi, chết cũng đi ! Nhiệm-vụ mà !
3.
Bây giờ tôi xin nói đến phần HƯỚNG DẪN DỰ-TÒNG. Như trên đã nói
: chúng tôi là những người cũng đi tìm Chúa. Nên khi người ta
đến nhờ chúng tôi thì chúng tôi xin họ cùng chúng tôi tìm Chúa.
Họ cùng chúng tôi nói với Chúa nhiều hơn là nói về Chúa, ao ước
hơn nữa được nghe Chúa và học cùng Chúa (Ga 6,45). Và cứ làm
theo đúng như Lời Thánh Kinh. Bắt chước Chúa Yêsu
Phục-Sinh. Ngài mở lòng cho họ hiểu Sách Thánh (Lc 24,27.45) và
căn dặn họ mong chờ Chúa Thánh Thần (Lc 24,49 ; Cv
1,4t). Phải nói ngay rằng trong phần này, tại vùng Pleikly-Chưsê
chúng tôi, cũng không phải riêng chúng tôi đã làm được gì. Nhưng
là chính Chúa đã làm trực tiếp hay gián tiếp qua những sứ-giả mà
Ngài gửi đến giúp chúng tôi : Cha Tiệu, Cha Tài, Cha Phán, Cha
Qui, Cha Thượng, Thầy Phương S.J., các Chị Phaolô và anh chị em
giáo-dân Kinh-Thượng. Nếu các Lm, Tu-sĩ như những Phêrô, Phaolô
ngang qua loan báo TM, thì anh chị em giáo-dân làm việc lâu bền
hơn, với những đặc sủng riêng của họ, không ai thay thế được. Sự
cộng tác này “mạc khải” cho chúng tôi một hình thức hoạt động
trong GH mà chúng tôi mong ước được lặp lại mãi nơi chúng tôi (đây
là nói riêng về phần trực tiếp loan báo Tin Mừng, trong những
lãnh-vực khác, các công-tác-viên kể ra không siết - vẫn là vì
Chúa và do Chúa vì đa số chúng tôi không hề quen biết nhau từ
trước).
A.
ĐÚNG NHƯ LỜI THÁNH KINH. Khi anh chị em Jarai trở lại xin theo
Chúa, lúc đó chúng tôi chỉ có cuốn Tân-Ước bằng tiếng Jarai, mà
như trên đã nói, là công việc duy nhất từ 1969 đến 1973 Chúa cho
phép chúng tôi thực hiện để phục-vụ trực tiếp cho sứ-vụ loan báo
Tin Mừng (chỉ thực sự bắt đầu từ 1985 tại vùng Plei-Kly). Nếu có
những tài liệu khác, chúng tôi có sử dụng không ? Chắc chắn là
có ! Mà còn dám sử dụng thay Thánh Kinh nữa ! Bởi vì chúng tôi
cũng thuộc thế hệ “mì ăn liền” – “fast-food”, đã từng chịu một
nền đào tạo nhân-bản thiên về lý-trí, lý-luận, đạo đức (luân-lý)
- thiếu đào-tạo TM, đào-tạo Thần-Khí (Ngài dạy mọi sự và dân đưa
tới tất cà sự thật : Ga 14,26 ; 16,13 - chủ yếu bằng làm chứng :
Ga 15,26). May quá Chúa đặt chúng tôi vào hoàn cảnh Jarai nên
chúng tôi lấy Lời Chúa làm chính và tham khảo những tài-liệu
người đời khi có thể - chứ không lấy tài-liệu người đời làm
chính và tham khảo Lời Chúa khi có thể. Đây là một trong nhiều
điều Chúa hoán cải chúng tôi nhờ được sống với những kẻ “hèn mọn”.
Vậy Thánh Kinh nói gì ? Xin đọc
Rm 10,6-13 (cf. Cv 2,32-36 ; Ph 2,6-11 ; 1Cr 15,1-4). Vậy là
chúng tôi đón nhận và tuyên xưng Mầu-Nhiệm Đức Tin : Chúa chết -
Chúa sống lại - Chúa lại đến. Chúng tôi đón nhận và tuyên xưng
ĐYK là Chúa : Đúng theo Lời Thánh Kinh và đúng như HT đón nhận,
tuyên xưng và cử hành trong phụng-vụ từng năm - từng tuần - từng
ngày - trong từng BT : Lex orandi lex credendi. Mục-đích là gì ?
B.
ĐÓN NHẬN THẦN-KHÍ - Sống nhờ và sống theo Thần-Khí. Chúa Yêsu
chết và sống lại mục đích là để ban Thần-Khí (Ga 16,7). Qua chết
và sống lại, Chúa Yêsu được tôn vinh làm Chúa mục đích là để ban
Thần Khí (Cv 2,32-36 ; Ga 7,37-39.19,30 ; 20,22 ; Lc 24,49).
Chúa là nguồn Thần-Khí. Con người phục-sinh, con người mới là
con người sống nhờ Thần-Khí và sống theo Thần-Khí (Rm 8,1-17 ;
Gl 5,25 ; Eâp 4,23) vì “Ađam con người đầu tiên là sinh-khí, còn
Ađam cuối cùng là Thần-Khí tác-sinh” (1Cr 15,45 ; 2Cr 3,17). Đó
là hướng tiến-hóa, hướng phát-triển của con người.
Khi để cho Chúa thực hiện
chương-trình kế-hoạch của Người như thế, khi tin và nhận Chúa
Yêsu chết, phục-sinh, tôn-vinh làm Chúa và để Ngài đổ tràn đầy
Thánh Thần đến chìm ngập (Cv 2,37-41 ; Mt 28,18-20), chúng tôi
thấy xuất hiện một cộng-đoàn những kẻ tin tưởng tự như cộng-đoàn
tiên-khởi (Cv 1,14 ; Cv 2,42-47) ; chúng tôi thấy xuất hiện
“những con người không có học” (Cv 4,13) mà lại có ơn “thông
hiểu, ơn hiểu biết, ơn khôn ngoan, ơn sức mạnh, ơn biết lo liệu,
ơn yêu mến, ơn kính sợ”(Ys 11,2t) . . .ơn thị kiến, ơn báo mộng,
ơn phục-vụ, ơn dạn dĩ can đảm, ơn rao giảng, ơn tự-do thoát khỏi
mọi sự ràng buộc hay nô-lệ, ơn chữa lành, ơn cầu nguyện, ơn yêu
mến Lời Chúa . . . Nếu so với cộng-đoàn Côrinthô(1Cr 12-14), thì
cộng-đoàn chúng tôi còn thiếu ơn ngôn-sứ, ơn phép lạ . . .Dù sao
thì chúng tôi cũng nghiệm được “khai-ân Thần-Khí” (Rm 8,23)
trong cộng-đoàn Jarai và xác tín rằng cộng-đoàn Kitô-hữu Jarai (trong
toàn giáo-hạt Pleiku có thể đã lên tới 30.000 người tân-tòng và
dự-tòng, rải rác ở khoảng 300 làng khác nhau, trong một diện
tích rộng cả ngàn cây số vuông, mà chỉ có 3 trung-tâm dự-tòng
không hoàn chỉnh, chưa có một Nhà Thờ nào, với chỉ 3 Lm nói
tiếng Jarai - mà cả ba đều “đã chạy gần hết chặng đường” (2Tm
4,7) dành cho mình : một cộng-đoàn hay một cộng-đồng như thế mà
sống và phát-triển được đó hoàn toàn là do quyền-năng của Chúa
Thánh-Thần. “Đó là điều anh chị em nghe và thấy được” (Cv 2,33).
Hiện nay công việc của chúng tôi chủ yếu là qui tụ nhau nghe Lời
Chúa, thờ-phượng tôn-vinh và kể cho nhau nghe “những việc Chúa
làm” (1P 2,9), để nhận ra những gì Ngài chỉ dạy cho chúng tôi (Ga
6,45). (Viết từ 2001).
|