|
LƯỢC-SỬ NHÓM
PLEIKLY
ầu khí chung của chúng tôi là
Giáo-Hội ngay sau Công-Đồng Vatican II (1962-1965), là Lumen
Gentium (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân), là Ad Gentes (Sắc-Lệnh
Truyền Giáo), là Hội Thánh Giữa Lòng Thế-Giới (Hiến Chế Gaudium
et Spes : Vui Mừng và Hy Vọng), là Agiornamento (Canh-Tân). . .
là ĐGH ra khỏi Vatican . . . Có một cuốn sách tiêu biểu của thời
đó : ĐẠO LÀ ĐƯỜNG HAY PHÁO ĐÀI của Thầy Nguyễn-Ngọc-Lan, giáo-sư
Học-Viện thời đó của chúng tôi, mà tài-năng, tư-tưởng và thái-độ
dấn thân không thể không ảnh hưởng trên chúng tôi. Nói tới các
giáo-sư Học-Viện của chúng tôi thời đó, cũng không thể không
nhắc tới những vị như Cha Alphonse Tremblay, Cha Thomas Côté,
Cha Giuse Nguyễn-thế-Thuấn, Cha Phaolô Đinh-Khắc-Tiệu . . . vì
sự uyên thâm của các ngài, nhưng nhất là vì thái-độ dấn thân
nghiêm túc của các ngài, chúng tôi không chỉ coi các ngài là
những giáo-sư chuyên nghiệp đơn thuần đến lớp truyền đạt kiến
thức, mà còn là những vị "THẦY" đã để lại dấu ấn sâu đậm và tích
cực trên đời sống của chúng tôi. . .
Những năm diễn ra Công-Đồng
Vatican II chính là những năm tôi thụ huấn tại Học-Viện Dòng
Chúa Cứu Thế Đàlat VN. Tinh thần CANH TÂN mà Công-Đồng cổ võ
trong mọi lãnh vực lại cũng là tinh-thần TRỞ VỀ NGUỒN , trở về
nguồn Tin Mừng và đối các tu-sĩ là trở về nguồn đặc sủng của
Đấng Sáng Lập Dòng. DCCT có mục đích theo Chúa Yêsu rao giảng
Tin Mừng cho những người cô thân tất bạt bị bỏ rơi nhất. Toàn
thể công-cuộc đào tạo là hướng về mục-đích ấy. Các Thừa Sai DCCT
Canada đã được kêu gọi thiết lập DCCT tại VN từ năm 1925. Các
ngài đã mở ra những sứ-vụ (missions - người VN quen gọi là các
kỳ Đại-Phúc) chủ yếu cho các vùng nông thôn VN. Khi chuyển giao
quyền điều hành Tỉnh DCCT - VN cho các đồng huynh VN, các Cha
Canada lại mở ra sứ-vụ TM cho đồng bào thiểu số Kơho tại vùng
Phi-Yang phía Đông-Nam Đalat. Trong những năm ở Học-Viện DCCT
Đalat, vào những kỳ hè, chúng tôi được gứi tới những mội trường
hoạt động của Dòng. Tôi đã cùng anh em có mặt tại Sài-gòn để phổ
biến những tài-liệu về Công-Đồng. Và tôi đã nghĩ tới sống với
giới phu bến tầu, hay những người Trung-Hoa. Tôi đã trải qua một
kỳ hè với Cha An-Phong Nguyễn Đức Điềm (năm 1965? lúc đó ngài
vẫn còn ở HV) tại Thạch-An, Châu Ổ, Quảng-Ngãi - một trung-tâm
truyền-giáo cho người lương. Từ những năm 1967 trong các kỳ
nghỉ, tôi đã đến sống với các Cha Canada ở Đà-Mpao (một
giáo-điểm khác của Phi-Yang). Tôi làm quen với hai thừa sai DCCT
VN là Tu-Huynh Lêonard Quân. và Lm Antôn Vương-Đình-Tài, vốn đã
sống với người Koho từ những năm 1959, 1960 ở Phi-Yang và Koya.
Công việc của tôi trong thời gian ấy là quan-sát và học tiếng.
Kỷ-niệm của thời này, tôi chỉ nhớ chuyện đi câu. Tôi thuộc một
gia-đinh nông dân có truyền thống mê câu cá. Hôm đó tôi theo một
thanh-niên người Chil hay Bon-Ya gì đó (chi nhánh của nhóm ta
quen gọi là Kơho) đi câu cá ở suối Đà-Đờng (thượng nguồn Sông
Đồng-Nai). Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên và thú vị là mỗi khi
câu được cá thì anh thanh niên đó rất tự nhiên bỏ cá vào túi aó
hay túi quần. Điều mà người Kinh chúng tôi không bao giờ làm !
Tôi bất đầu thấy người ta rất khác mình.
Năm 1969 là năm HV cuối cùng của
tôi. Đầu năm ấy Cha Vương-Đình-Tài tới gặp chúng tôi và bàn
chuyện RA ĐI tới một nơi nào đó, bất cứ nơi nào, trong vùng đất
của người thiểu-số chưa theo Đạo. Tôi nhớ đó là thỏa ước đầu
tiên của nhóm chúng tôi : RA ĐI - SỐNG CÙNG NGƯỜI THIỂU SỐ -
CHƯA THEO ĐẠO. Lời Chúa hướng dẫn cho chúng tôi là Rm 15,16-21:
"Làm tư-tế của Đức Giêsu-Kitô nơi các dân ngoại, mà hành lễ là
rao giảng Tin Mừng của Thiên-Chúa, để lễ phẩm là dân ngoại được
Thiên Chúa vui lòng chiếu nhận, bởi được tác thánh trong Thánh
Thần . . .Quả tôi sẽ không dám nói đến điều gì Đức Kitô đã không
dùng tôi để thi thố ra, mà làm cho dân ngoại biết đàng vâng phục
: bằng lời nói và việc làm, bởi quyền năng, dấu lạ và điềm
thiêng, bởi quyền năng của Thần Khí . . . nhưng như một danh dự,
tôi chỉ rao giảng Tin Mừng ở đâu Danh Đức Kitô chưa dội đến, để
khỏi đi xây trên nền móng kẻ khác đã đặt. Song như đã viết:
Những kẻ không được loan báo về
Người, sẽ thấy,
Những kẻ không hề nghe nói về
Người, sẽ hiểu. (Rm 15,16-21).
Nhóm chúng tôi lúc ban đầu lấy
tên là Nhóm RA ĐI. Chúng tôi bây giờ đã có 4 người : Một
Linh-Mục là Cha Antôn Vương-Đình-Tài, một Tu-Huynh là Thầy
Lêônard Quân, hai Phó-Tế là Giuse Trần-Sĩ-Tín và Phêrô
Nguyễn-Đức-Mầu (cùng lớp). Theo luồng gió mới của Công-Đồng, tất
cả chúng tôi đều cảm thấy cần phải ra đi khỏi một cơ-cấu nào đó
của Hội Thánh, của Nhà Dòng đã trở nên quá chật hẹp, quá xơ cứng
. . . Nhưng thực ra chúng tôi cũng không biết phải đi về đâu,
làm thế nào, làm cái gì ? ? ? Từ đó nhóm chúng tôi trở thành
nhóm tìm kiếm, về sau này chúng tôi gọi là nhóm TẦM ĐẠO. Lối
TU-ĐẠO của chúng tôi là TẦM-ĐẠO. Và lối TRUYỀN ĐẠO hay đúng hơn
lối CHỨNG ĐẠO của chúng tôi vẫn là TẦM ĐẠO :
Đó là dòng dõi những người tìm
kiếm Yavê.
Những kẻ tìm kiếm nhan Người,
Thiên Chúa của Yacob (Tv 23,6).
Kỳ nghỉ Tết năm 1969, tôi theo
Cha Tài trên chiếc ôtô "Hai Ngựa" (Deux Chevaux) từ Đàlạt xuống
Nha-Trang, qua trung-tâm Chàm của Cha Moussay, lên Ban-Mê-Thuột.
Chúng tôi vào Tòa Giám-Mục Ban-Mê-Thuột gặp Đức Cha Mai và ở lại
đêm. Cha Tài trình bầy với Đúc Cha mục đích chuyến đi của chúng
tôi : chia sẻ cuộc sống với một nhóm người Thượng nào đo, xin
Đức Cha chỉ bảo. Nhưng Đức Cha tỏ vẻ không mặn mà lắm với anh em
DCCT mà ngài cho là quá "cấp tiến". Ngài nóii nếu muốn, chúng
tôi có thể đến ở một nơi nào đó tại Phước Long. Mà Phước Long
lúc đó đã là vùng oanh kích tự do (free fire zône) và kể như là
đã là vùng của Mặt Trận Giải Phóng (CS). Không có con đường bộ
nào tới được Phước Long. Tất cả đều vận chuyển bằng máy bay trực
thăng quân đội. Cha Tài là người đã bao phen trải qua cảnh hãi
hùng của chiến tranh, cùng vơi dân làng bị kẹt giữa hai lằn đạn,
cận kề cái chết, chứng kiến cảnh nhà cửa, làng mạc bốc cháy dưới
bom lửa . . .Ngài không thể chọn ngõ cụt Phước Long. Sau khi
thăm một số bà con họ hàng gốc Vinh, ngài lại tiếp tục lái xe
"con cóc" theo đường 14 về hướng Pleiku, còn cách Pleiku khỏang
40km thì rẽ qua Cheoreo-Phú Bổn.
Đường rất xấu, chỉ là đất đá, lơm
chởm, lồi lõm . . . và rất vắng vẻ. Vài chỗ phất phới cờ của Mặt
Trận Giải Phóng. Hồi hộp. Những ký ức chết chóc của cuộc tiến
công Tết Mậu Thân năm 1968 còn đó. Tại Cheoreo - Phú Bổn, chúng
tôi gặp Lm Vũ-Văn-Thiện, là bạn cùng trang lứa với Cha Tài. Cha
Thiện vốn là Lm DCCT, đã chuyển qua làm Lm Giáo-Phận, về làm
việc với Đức Cha Kim (Paul Seitz) là dưỡng-phụ. Chúng tôi coi
nhau như anh em. Cha Thiện vẫn ở trong cái nhà sàn do Cha
Jacques Dournes dựng nên ở Bon Ama Djơng, Cheoreo. Cha Thiện tuy
mới ở vài năm với bà con Jrai tại Cheoreo, nhưng đã nắm bắt được
ngôn-ngữ và văn-hóa Jrai. Âu cũng là nhờ nhà nghiên cứu vĩ đại
là Lm Jacques Dournes mở đường khai lối. Thật ra, tại Học Viện,
Cha Nguyễn-Thế-Thuấn đã cho đọc ở nhà cơm cuốn DIEU AIME LES
PAIENS của Jacques Dournes. Lúc đó đã có anh em Học-Viện hỏi Cha
Thuấn: "Cheoreo có phải ở Châu-Phi không cha?" Dĩ nhiên câu trả
lời của Cha Thuấn như thường lệ vẫn là: "Dốt ! Cheoreo ở
cao-nguyên VN chứ đâu có phải ở Châu Phi! Dốt !" Kể ra để cho
thấy một là thời ấy Tây-Nguyên còn rất xa lạ đối với thế hệ
chúng tôi, hai là tiếng "dốt" thường xuất hiện nơi cửa miệng Cha
Giáo Thuấn vừa làm chúng tôi bực mình, lại vừa khiến chúng tôi
lao vào đèn sách hết mình. Chắc là để trả thù. . . một cách vô
vọng !
Tại Cheoreo, khám phá lớn nhất
của chúng tôi là Jacques Dournes, cửa ngõ cho chúng tôi bước vào
rừng núi bao la bí hiểm và phong phú của Tây Nguyên. Học Jacques
Dournes, dĩ nhiên không phải chỉ trong những ngày đầu ghé thăm
Cheoreo, nhưng còn thường xuyên trong suốt hơn 30 năm qua. Những
ai đi truyền giáo thì không thể không đọc DIEU AIME LES PAIENS.
Chính ngài làm sáng tỏ điều mà gần nửa thế kỷ sau chúng ta gọi
là rao giảng Tin Mừng có hội nhập văn-hóa (Tuyên-ngôn của
Liên-Hiệp Hội Đồng Giám-Mục Á-Châu 1999-2000). Trong cuốn sách
nói trên, Cha Jacques Dournes đã kể lại ngày đầu tiên cha tới
Cheoreo như thế nào. Giám-Mục Paul Seitz đã chở cha bằng xe Jeep
tới làng Bon Ama-Djơng vào một ngày trong năm 1955, không nhà,
không cửa, không người quen biết. Tới nhá nhem tối thì có một bà
vị vọng trong làng (Yă H'Lem, họ Rơchom) chịu cho ngài vào nhà
tạm trú qua đêm. Cái sự tam trú ấy đã kéo dài cả chục năm. Ngay
khi ngài làm một nhà sàn riêng như mọi nhà sàn Jrai thì nhà Yă
H'Lem vẫn được coi là "nhà" của ngài, và hai bên đã rất găn bó
với nhau, nhất là nhà Yă H'Lem lại là nhà phụ-tá địa phương của
"Vua Lửa" (Pơtao Apui) - một cửa ngõ để ngài đi sâu hơn vào
dân-tộc Jrai. Tại nhà Yă H'Lem, ngài đả bắt đầu học và tìm hiểu
ngôn ngữ và phong tục tập quán Jrai. Ngài đã trồng thứ tương đối
dễ trồng là ớt. Và cũng đóng khố, cởi trần (Cheoreo rất nóng
bức) ngồi bán ớt ngoài chợ. Việc đóng khố không được Giám Mục
tán thành lắm. Nhưng khi không có Giám Mục ở đó thì ngài vẫn
đóng khố. Cho nên mới có một lấn kia, đang khi thoải mái đóng
khố, thì bỗng anh đồ đệ Ama Sim hớt hải chạy vào báo động : Giám
Mục tới ! Jacques Dournes vội xỏ quần, măc áo ra đón Giám Mục.
Ngài đi trước mời Giám Mục lên thang vào nhà. Báo hại Giám Mục
đi đàng sau phát hiện ra cái đuôi khố vẫn lòi ra khỏi quần !
Giám Mục bèn cầm lấy cái đuôi khố của Jacques Dournes giật giật
mà rằng : "Mais qu'est-ce que c'est" ! (But what is it ?) Tuy
tôn trọng Giám Mục, nhưng khi tranh luận thì không hề vị nể.
Chính tôi đã nghe GM Paul Seitz nói : "Tôi đã bảo Jacques
Dournes rằng : tớ thương cậu lắm, nhưng xin Chúa đừng để tớ phải
sống với cậu quá ba ngày!” Aáy là GM Paul Seitz đã là người rất
cởi mở và cập nhật. Nói thế để thấy rằng Jacques Dournes hòa
đồng với dân như thế, nhưng lại là người khó quan hệ. Lý do
chính theo tôi, đó là vì Jacques Dournes là người luôn luôn đặt
lại mọi vấn đề, là người không để cho ai yên trong suy nghĩ cũng
như trong nếp sống của mình. Chính Jacques Dournes đã luôn là
vấn đề cho mọi người. Có một Giáo-Hội nào đó, nhất là một
Giáo-Hội "tiền Công-Đồng" nào đó, và cũng có một Xã-Hội nào đó,
đã trở thành "vấn đề" đối với Jacques Dournes. Chúng tôi nhận
thấy Jacques Dournes cũng là con người muốn "thoát ly", "ra đi"
khỏi một "thành đô" nào đó, hay nói như Nguyễn-Ngọc-Lan, khỏi
một "pháo đài" nào đó... Ở điểm này chúng tôi cảm thấy Jacques
Dournes là "đồng minh", "đồng chí", đồng lõa. . . Dĩ nhiên chúng
tôi tự cao, tự đại mà nói như thế, vì Jacques Dournes triệt để
hơn chúng tôi rất nhiều. Đứng trước Jacques Dournes, cũng như
đứng trước Nguyễn-Thế-Thuấn, chúng tôi chỉ là những học trò vừa
"hèn", vừa "ngu". Sở dĩ tôi ráp hai người lại với nhau ở đây là
vì cả hai, về ngoại hình cũng như nội tâm, đều là những "dị
nhân" !
Chúng tôi đã được trực tiếp với
Jacques Dournes vào năm 1970, khi trên bước đường nghiên cứu,
ông dừng lại tại nhà chúng tôi ở Pleikly chừng một tuần. Sách
của ông luôn luôn là sách "gối đầu giường" của chúng tôi như :
- Dieu aime les paiens (Chúa yêu
lương dân) : Một loại Missiologie.
- Offrande des peuples (Hiến lễ
muôn dân).
- Bois bambou, aspect végétal de
l'univers Jơrai (thảo mộc trong
thế giới Jrai).
- Le Jơrai sans complexe (Ngữ-học
Jrai).
- Coordonnées (Cơ-cấu xã-hội
Jrai).
- Pơtao, une théorie du pouvoir
chez les indochinois Jơrai, (Một
chủ thuyết về quyền bính nơi
người Jrai).
- Forêt, Femme, Folie (Một thử
nghiệm phân tích xã-hội theo
khoa tâm-lý chiều
sâu).. . . . . . . . . . . . . . . . .
Tới tháng 8/1969, chúng tôi đã
trở lại Cheoreo, có đầy đủ bốn anh em: Tài, Quân, Tín, Mầu.
Chúng tôi được anh chị em Jrai Cheoreo, Cha Vũ-văn-Thiện giúp
làm quen bước đầu với ngôn-ngữ và môi-trường Jrai. Chúng tôi
thường xuyên ở trong các làng Bon Ama-Djơng, Bon Rưng, Plơi-Pa .
. . Plơi-Pa-Ơi-Briu hồi đó bên đồi Chư'-Mô' (Núi Vợ - trên đỉnh
có di-tích Tháp Chàm) còn nguyên trạng một làng Jrai truyền
thống : những hàng nhà sàn dài sắp hàng bên nhau theo hướng
Bắc-Nam, cột nhà bằng gỗ, vách sàn bằng tre-le, mái lợp tranh
rất dầy; không hề có mộng khớp, không hề có một cây đinh, tất cả
đều cột bằng giây rừng, khéo léo, đẹp mắt, bền chặt. Trong làng
không có một ngọn cỏ. Cây cối, vườn tược đều ở ngoài làng. Các
sản phẩm nông nghiệp cũng để trong những kho vựa dựng tại nương,
tại rẫy, không cần khóa, chẳng cần canh, vì không ai lấy của ai
cả. Tôi nhớ hồi đó nước nôi đều đựng trong những quả bầu nút
kín. Ban đêm chúng tôi ngủ không cần nằm mùng mà cũng không thấy
có muỗi. Chúng tôi bắt đầu mê nhạc cồng chiêng và những điệu múa
"yun-suang" trong các lễ hội, những bài ca dân dã, nhưng buổi kể
chuyện "akhan" bên bếp lửa, những tiếng đàn "tơrưng" rộn rã hay
những tiếng đàn "gong" réo rắt của những chàng trai, giọng ai
oán của tiếng đàn "kơni" của người già, âm thanh thì thầm thao
thức của bộ khèn "ding-dêk" của các bà, các cô . . .
Chúng tôi ở tại Cheoreo như thế
từ thượng tuần tháng tám đến tháng mười l969. Đến ngày
10/10/1969, chính Đức Cha Seitz lái xe Jeep đưa chúng tôi về
Plei-Kly, cách Pleiku chừng 60km về phía Nam, theo đường 14.
Cùng đi với chúng tôi có Cha Tôma Vũ-Khắc-Minh lúc đó là Cha Xứ
La-Sơn, kiêm Mỹ-Thạch, Phú-Quang, Phú-Nhơn thuộc Xã Pleikly hồi
đó. Mỹ-Thạch cách Phú-Nhơn chừng 22km. Phú-Quang cách Phú-Nhơn
chừng 7km. Ba nơi này có ba Nhà Thờ nhỏ cho giáo-dân người Kinh.
Nhưng cả ba Nhà Thờ lúc đó đều bị chiến tranh tàn phá. Giáo dân
phân tán còn khoảng 300 người tính cả ba nơi. Người Jrai chưa có
ai theo Đạo.
Chúng tôi tới Pleikly lúc đó
khoảng ba bốn giờ chiều, không nhà, không cửa, không ai tiếp
đón, chưa quen biết ai. Đức Cha đổ chúng tôi xuống sân trường
Pleikly. Đức Cha lấy Sách Thánh và đọc cho chúng tôi Lc 10,1-9 :
Lúc ấy Chúa cử thêm 72 người, và sai họ, cứ từng hai người đi
trước Ngài đến mọi thành và nơi chốn Ngài định đến. Ngài bảo họ
: "Mùa màng nhiều, thợ gặt ít ! Vậy anh em hãy xin Chủ mùa sai
thợ gặt đồng lúa của Người. Anh em hãy đi ! Này Thầy sai anh em
như chiên vào giữa sói. Đừng mang ví tiền, bao bị, giầy dép. . .
Hãy nói : Bình an cho nhà này ! . . . Hãy lưu lại nhà ấy, và ăn
uống những gì họ có . . . Hãy chữa lành các kẻ ốm đau . . . Hãy
bảo họ : Nước Thiên Chúa đã gần bên anh em !" . . . Đức Cha đã
cầu nguyện và chúc lành cho chúng tôi. Ngài nói : Bây giờ anh em
có bốn người. Nhưng nếu Nhà Dòng có cử đến 72 người thì
Giáo-Phận vẫn hoan hỉ đón nhận. Sau đó ngài lên xe cùng Cha Minh
trở lại hướng Pleiku. Đó là con đường không nên đi lại sau 5 giờ
chiều. Thời chiến mà ! Sau này chúng tôi nghiệm thấy rằng Chúa
đã làm đúng theo Lời Ngài đã nói. . .
Sau khi Đức Cha đi rồi, chúng tôi
đến căn nhà sàn gần nhất, bên phải nếu nhìn vào Nhà Trường, và
xin tá túc. Tuy ngờ ngợ, nhưng chủ nhà ban đầu cũng thuận. Đó là
nhà Amí H'Djhế (Mẹ của có con gái đầu tên là H'Djhế). Amí H'Djhế
mãi 32 năm sau mới chịu thanh-tẩy (Mùa Phục-Sinh 2001). Ông Bố
chồng của chị, Ơi Gưng, một Già Làng nổi tiếng, một tay anh hùng
cưỡi ngựa đâm bò rừng những thập niên 40-50, thì chịu thanh-tẩy
25 năm sau (1994). Chúng tôi quen ông ngay tư lúc ban đầu, vì
chuyện gì cũng phải tham khảo ý kiến của ông. Việc ông và con
cháu của ông theo Đạo là một ví dụ điển hình về việc Nhóm chúng
tôi không bao giờ rủ rê thúc đẩy người ta vào Đạo. Mọi người tự
lụa chọn và quyết định lấy. Ông Kpă Djjhôi, cũng là một Già Làng
Pleikly, có lần đã nói với tôi: "Các anh ở đây lâu rồi, mà chẳng
bao giờ các anh bảo chúng tôi đi Đạo cả !" Tôi có trả lời : "Nếu
tôi kêu gọi ông, ông rất có thể từ chối. Nhưng ngày nào mà ông
nghe được tiếng Chúa kêu gọi ông trong lòng, chắc chắn ông sẽ
không từ chối !". . .
Vậy là chúng tôi đã lên nhà Amí
H'Djhế và bỏ đồ đạc chúng tôi vào một chỗ (không có bao nhiêu,
vì mọi người chúng tôi chỉ mang theo một túi nhỏ hay ba-lô. Sau
đó chúng tôi hỏi đường ra Giọt-Nước của làng để tắm rửa (lộ
thiên, như mọi người), vì chúng tôi đã trải qua một quãng đường
đầy bụi đất. Giọt-Nước ở mãi dưới dốc cuối làng. Người ta xây
chặn những mạch nước từ lòng đất cho chảy qua hai ba cái ống tre
để bà con trong làng tắm rửa. Ở vùng Pleikly sông suối đều ở xa,
chỉ có những Giọt-Nước (Ia Chơnang) như thế. Sau khi tắm rửa,
chúng tôi quay về làng tới nhà Amí H'Djhế tèi thấy ở cầu thang
lên nhà có gài một cành lá tươi! Và có người nhà nói: Kom -
kiêng cữ, nhà có người bệnh, không thể cho khách đến nhà ! Miễn
bình luận ! Phải tìm nơi khác thôi ! Xế chiều rồi, biết đi đâu?
Chúng tôi e ngại rằng chúng tôi còn quá xa lạ, sẽ khó có người
dám chứa chấp. Đầu nhà trường có một căn phòng bỏ trống. Thế là
chúng tôi chọn tá túc nơi đó. Nhưng trong phòng đầy phân dê ! Số
là căn phòng này được dành cho giáo-viên. Nhưng chẳng có
giáo-viên nào ở cả, nên lũ dê tới xâm chiếm. Lúc này thì đến
lượt chúng tôi dành chổ của lũ dê ! Trong lúc chúng tôi còn đang
loay hoay với nhau thì có ông Xã-Trưởng Ama Tên, một người Jrai,
và có ông Cậy (một giáo dân người Kinh) đến giúp. Ông Xã-Trưởng
đồng ý cho chúng tôi ở tạm tại căn phòng nhà trường.Ông Cậy
(Giuse Đoàn-Bưng) kiếm được cho chúng tôi một cái giường đơn và
một ít chiếu. Chiếc giường xin nhường cho người cao tuổi nhất là
Cha Tài (lúc đó cũng chỉ xít xoát 39, còn Lêônard Quân 34, Tín
28, Mầu 26). Còn ba anh em chúng tôi trải chiếu ngủ ngay trên
nền xi-măng. Bởi đó mới có chuyện: một trưa kia khi đang nằm ngủ
bỗng tôi thức giấc vì cảm thấy có cái gì đó đang rất nhẹ nhàng
trườn trườn dưới lớp chăn tôi đắp. Tôi nằm im không dám động
đậy. "Nó" trườn lên tới ngực tôi. Rồi "nó"ù thò cái đầu ra khỏi
mền phía vai trái tôi, lưỡi nó lia lia thò thụt : một con rắn !
dài tới cả thước. Tôi không phân biệt được nó là răn độc hay rắn
hiền. Tôi càng không dám động đậy ví nó rất gần cổ tôi. Cuối
cùng thì nó cũng chui ra khỏi lớp mền trên người tôi ! Nhưng nó
lại chui vào mền từ phía vai phải anh Lêônard lúc đó đang ngủ
say ! Để cho nó chui hẳn vào trong mền anh Lêônard, tôi mới ghé
sát tai anh mà gọi : "Anh Haai ! Anh Hai !" - Anh Hai mở mắt
nhìn tôi. Tôi đặt ngón tay lên môi ra dấu cho anh nằm im, rồi
tôi nói : - "Anh phải làm đúng như tôi nói, nghe chưa"! Anh Hai
khẽ gật đầu. Tôi tiếp : "Anh tuyệt đối không được động đậy !"
Anh Hai trợn mắt lên như có vẻ hỏi tại sao ? Tôi tiếp : "vì có
một con rắn nó chui trong mền anh !" Vừa nghe tới rắn là anh Hai
bung mền nhẩy ra khỏi chỗ liền ! Con rắn lại chui vào mền anh
Mầu lúc này đã thức giấc và nhẩy cẫng ! Cuối cùng con rắn chui
vào gầm giường Cha Tài. Và tội nghiệp, nó bị xử tử ! Lúc đó mới
rõ nó chỉ là một con rắn gọi là rắn "rồng" chuyên đi bắt chuột
thôi, không độc hại gì cả ! . . .
Chúng tôi ở trong căn phòng này
hơn hai tháng rưỡi. Chúng tôi tự nấu lấy mà ăn. Hằng ngày chúng
tôi theo dân làng xuống ruộng, ra nương để tham gia vào công
việc của họ, và nhất là để tập nghe và tập nói tiếng Jrai. Mưa
thưa dần. Gió đông bắc bắt đầu thay gió Tây Nam. Bước vào tháng
11 là bắt đầu mùa gặt. Hồi đó chưa có lúa ngắn hạn. Chỉ có những
giống lúa địa phương sáu tháng, cây cao. Có những giông lúa thơm
ngon như "pơdei Lao, pơdei Gor . . ." Hồi đó đa số Jrai Pleikly
còn tuốt lúa bằng tay (puă pơdei). Họ còn ngại cắt, gặt, đập vì
cho như thế là đối xử quá thô bạo đối với cây lúa. Tôi thấy như
người Jrai coi cây cối, và nhất là cây lúa như những sinh-vật
biết rung cảm hơn là loài vô tri vô giác. Và chúng còn có tính
linh thiêng nào đó nữa ! Tôi đã từng chứng kiến cảnh người Jrai
khi làm cỏ cho lúa bắp, lỡ tay làm lưỡi "wang" (dụng cụ để rẫy
cỏ) cắt đứt cây lúa hay bắp non, là họ rên lên : "Ô, ană ! Ôi
con tôi !" Ngày nay thì họ đã trở nên chai lì như những người
"văn-minh" thực thụ.
Khi cây lúa tới thời con gái, hay
lúc cây lúa nặng hạt hay bắt đầu chín, người Jrai "ngă Yang Hri"
(Yang Hri là Thần Lúa - cúng Thần Lúa). Tại thửa ruộng, chỗ cúng
Yang Hri, người ta đặt một ghè rượu ở phía Đông (gah ngó) cũng
gọi là phía trên. Đó là ghè rượu dành cho Yang-gah-ngó (Thần
Trên, Thượng-Thần, Thượng-Đế, Ơi Adei =Ông Trời, theo nghĩa "ở
trên" và "bao quát" - vì rơngit cũng là trời, nhưng theo nghĩa
là mây xanh, là cái vòm trời mà ta thấy được, như trong cụm từ
rơngit-lon = trời đất, vật chất hơn, giới hạn hơn, còn adei thì
vô cùng vô tận).(Viết tiếp sau, bây giờ phải viết LƯỢC SỬ
trước).
|