|
CHUYỆN NHÓM
PLEIKLY
RA ĐI
Năm mãn Học-Viện Dòng Chúa Cứu
Thế của các (Thầy Sáu) P. Nguyễn-Đức-Mầu (26 tuổi) và Thầy Sáu
J. Trần-Sĩ-Tín (28 tuổi), cũng là năm thứ 10 của Tu-Sĩ P.
Lêônard Hồ-văn-Quân (34 tuổi) và năm thứ 9 của Lm Antôn
Vương-Đình-Tài (39 tuổi) làm thừa-sai giữa người thiểu số Koho
thuộc Giáo-Điểm Phi-Yang (Phú-Sơn-GP Đalat), chúng tôi dễ dàng
thống nhất thành một nhóm với nhau trước tiên vì chúng tôi cùng
là tu-sĩ DCCT, cùng có một mục-đích là sống và loan báo Tin Mừng
cho những người nghèo cô thân tất bạt nhất. Mà đối với bốn anh
em chúng tôi, người nghèo bị bỏ rơi nhất chính là những người
dân-tộc thiểu số. Nhưng tại sao lại rời Giáo-Điểm Phi-Yang của
người Koho?
Lý do thứ nhất là vì từ cuộc
tổng tấn công Tết Mậu-Thân 1968 của quân đội cộng-sản Giải-Phóng
Miền Nam, cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt. Dân bản
làng ở những vùng sâu vùng xa bị dồn về những trung-tâm tị-nạn.
Thực ra đây là một cuộc chiến lấn đất dành dân. Các thừa-sai
không còn có thể đi đến những làng xa. Và cả các thừa-sai lẫn
dân chúng đều bị dồn về Giáo-Điểm Phi-Yang, Dà-Mpao, Rơlơm.
Chính trong hoàn cảnh này, vào một ngày tĩnh-tâm tháng của nhóm
thừa-sai DCCT Phi-Yang (hầu hết là các Lm người Canada), Cha Tài
đã đề nghị với Bề Trên cho ngài đi lập một giáo-điểm mới. Đề
nghị được chấp thuận, tuy chính Cha Tài cũng chưa biết sẽ đi đâu.
Lý do thứ hai ban đầu mù mờ,
nhưng sau càng ngày càng rõ : chúng tôi muốn sống và làm một cái
gì đó khác với những gì chúng tôi đã thấy và đã sống. Chúng tôi
rất đồng tâm nhất trí với lời lẽ của vị Tông-Đồ dân ngoại trong
thư Rm 15,15b-21, nhất là câu “Vinh dự của tôi là loan báo Tin
Mừng ở những nơi người ta chưa được nghe nói tới DanhĐứcKitô.
Tôi làm thế vì không muốn xây dựng trên nền móng nguời khác đã
đặt” (Rm 15,20). Chúng tôi nhậy bén với ý tưởng này là vì ảnh
hưởng của Công-Đồng Vatican II. Sau Công-Đồng mọi cái bắt đầu
thay đổi. Chúng tôi muốn đi tìm một lối tu khác, chúng tôi muốn
đi tìm một khuôn mạo khác về Hội Thánh.Tên nhóm chúng tôi lúc
ban đầu là “NHÓM RA ĐI” - ra đi khỏi một cơ-cấu, một khuôn mẫu
nào đó của đời tu, của Hội Thánh mà chúng tôi và mọi người thấy
không còn phù hợp. Ra đi khỏi một thành-đô nào đo. Thời đó người
ta còn muốn ra đi khỏi cả một “xã-hội” nào đó (ý nghĩa cuộc nổi
loạn của giới trẻ tượng trưng nơi cuộc nổi loạn của giới trẻ
Paris 1968, của mùa xuân Praha . . .). Và còn phải ra đi khỏi
chính mình, vì mình đã bị điều kiện hóa quá nhiều. Mình cũng đã
trở thành xơ cứng dưới bao lớp vỏ bọc. Ra đi nhưng thực sự chưa
biết ra đi về đâu. Vậy là phải cùng nhau đi tìm. Ra đi tìm người.
Ra đi tìm mình. Ra đi tìm Chúa. Tìm Chúa để tìm ra mình và tìm
ra người. Theo Tin Mừng thì hình như có một địa chỉ, một đầu mối
: người nghèo - người thiểu số.
Lúc ban đầu, chúng tôi không hề
biết đến người Jarai. Không biết họ là ai, ở đâu. Không biết họ
như thế nào? Vào đầu năm 1969, Cha Tài lái xe “2 ngựa” (2
Chevaux) đưa Trần-Sĩ-Thầy Sáu Tín theo con đường mà ngài đã có
lần đi qua từ Đalat xuống Nha-Trang thăm Trung-Tâm Truyền-Giáo
cho người Chăm của anh em Dòng Phanxicô. Sau đó lại lên Ban-Mê-Thuột,
tới ở nhờ anh em Dòng Biển-Đức, vì Cha Tài có những bạn học đã
từng ở DCCT nay chuyển qua Dòng Biển-Đức. Chúng tôi có tới thăm
một vài làng người Rađê. Và Cha Tài đã thấy ngôn ngữ của họ hoàn
toàn khác người Koho-PhiYang-Đàlat. Chúng tôi có tới chào Đức
Cha Mai, GM Ban-Mê-Thuột, và dò hỏi Ngài có chỗ nào cho anh
emchúng tôi được phục-vụ người Thượng. Đức Cha Mai tỏ ra dè dặt
với anh em DCCT mà Ngài cho là quá cấp tiến. Dầu sao Ngài cũng
nói : nếu muốn chúng tôi có thể tới vùng Bù-Đăng hay Đồng Xoài.
Nhưng lúc đó những nơi này ở giữa vùng chiến sự, không có đường
bộ an-toàn. Muốn tới những nơi đó chỉ có thể đi nhờ máy bay trực
thăng quân-đội Mỹ. Chúng tôi không thể đi truyền giáo mà lại nhờ
vả vào quân-đội Mỹ như thế được.
Thế là hai chúng tôi rời
Ba-Mê-Thuột theo đường 14 lởm chởm đất đá lên hướng Pleiku, rẽ
qua đường 25, tới Cheoreo-Phú Bổn (bây giờ thuộc Huyện Ayun-Pa,
cách Pleiku chừng 100km đường xe) nơi có người bạn học của Cha
Tài là Lm Phaolô Vũ-văn-Thiện đang phục vụ Trung-Tâm Truyền-Giáo
cho người Jarai. Lúc này chúng tôi mới biết đến sự hiện hữu của
người Jarai. Từ nơi đây chúng tôi có dịp gặp gỡ và bầy tỏ nguyện
vọng của chúng tôi lên Đức Cha Kim (Paul Seitz). Đức Cha rất vui
mừng đón nhận chúng tôi. Tới tháng 8/1969, bốn anh em chúng tôi
Tài Quân Thầy Sáu Tín Mầu đã có mặt đầy đủ tại Cheoreo. Chúng
tôi bắt đầu tham khảo những sách nghiên cứu của Cha Jacque
Dournes (một vị thừa sai và một nhà dân-tộc-học nổi tiếng đã đến
sống ở Cheoreo từ 1955 đến 1967), học tiếng Jarai qua tiếp xúc
với dân làng và tham gia vào sinh-hoạt thường ngày của họ. Cho
tới ngày. . .
10/10/1969
ức Cha Paul Seitz đưa chúng tôi
tới Plei-Kly vào khoảng 4giờ chiều ngày 10/10/1969. Đúng như đã
hẹn trước, chúng tôi từ Cheoreo lên Pleiku sáng hôm đó. Và chiều
hôm đó, chúng tôi theo xe Jeep do chính Đức Cha lái về Plei-Kly.
Đại-diện phía Giáo-Phận còn có Cha Đaminh Vũ-Khắc-Minh, lúc đó
làm Cha Sở La-Sơn, kiêm Mỹ-Thạch, Phú-Quang, Phú-Nhơn (lúc đó
đều thuộc Xã Plei-Kly). Vào thời điểm đó, số giáo-dân Công-Giáo
ở cả 3 địa điểm đó có khoảng 300 người. Nhưng Đức Cha đổ chúng
tôi xuống làng Plei-Kly (cách Pleiku gần 60km) là nơi chúng tôi
chưa hề đặt chân tới bao giờ, và chúng tôi cũng không quen biết
ai tại đó. Chúng tôi cũng chẳng có nơi trú ngụ. Đó chính là điều
chúng tôi đã thỏa thuận vớ Đức Cha.
Khi đến Plei-Kly, Đức Cha lấy
sách Tân-Ước đọc cho chúng tôi đoạn Tin Mừng theo Thánh Luca
10,1-12, Chúa sai 72 môn-đệ và ngài nói : “Xin giao cho anh em
tất cả vùng dân Jarai này. Bây giờ anh em có 4 người. Nhưng nếu
DCCT gửi tới 72 người như trong bài Tin Mừng, chúng tôi cũng
hoan hỉ đón nhận . . .” Sau đó Ngài cầu nguyện và chúc lành cho
chúng tôi, rồi lên xe hướng về Pleiku cùng với Cha Minh. Mãi tới
năm 2001, chúng tôi mới được biết tới lá thư mà chính Đức Cha
Paul Seitz, Giám-Mục Giáo-Phận Kontum, gửi cho Phụ-Tỉnh DCCT-VN
từ năm 1953, kêu gọi cho các Cha, các Thầy lên lập Nhà Dòng tại
Giáo-Phận Kontum và lo việc đào tạo những tông-đồ giáo-dân Kinh
Thượng để phục-vụ Tin Mừng giữa bà con người Thượng trong
Giáo-Phận Kontum. Lời kêu gọi này còn được lập lại năm 1956 (xin
coi phần phụ-lục). Con đường tìm kiếm của chúng tôi tưởng như vô
định, thực ra đã được tiền định từ những năm đầu đời Đệ-Tử DCCT
của chúng tôi là như thế.
NHỮNG NGÀY THÁNG
ĐẦU TIÊN Ở PLEIKLY
hi Đức Cha đã lên xe ra về,
chúng tôi đi tìm nhà tạm trú. Thực ra cái sân trường làng mà Đức
Cha đổ chúng tôi xuống là thuộc phần đất làng Plei-Kia chứ không
phải làng Plei-Kly. Hai làng ở liền nhau chỉ cách có một con
đường đất. Sau này chúng tôi được biết trước đây hai làng chỉ là
một. Nhưng sau một vụ hỏa hoạn lớn thì tách làm hai. Sau nhiều
lần di dời đây đó, bây giờ hai làng lại sát gần nhau. Vậy ngay
phía Tây sát sân trường, chúng tôi thấy có một căn nhà sàn dài
rộng. Chúng tôi xin tá túc. Sau này chúng tôi biết đó là nhà của
Ami' H'Djhê' (Mẹ của con H'Djhê' : người Jarai lấy tên con đầu
lòng mà gọi cha mẹ ; trước tên con gái có chữ H'). Trong nhà lúc
đó chỉ có một người lớn. Người này có vẻ thuận cho chúng tôi tá
túc. Chúng tôi liền để mấy cái túi của chúng tôi vào một xó nhà,
rồi hỏi thăm chỗ nào có nước để tắm rửa vì người chúng tôi đầy
bụi đường. Người ta chỉ cho chúng tôi ra mãi giọt nước ở ngoài
làng. Vào thời điểm đó trong làng chưa có giếng nước, chỉ có
giọt nước. Đây là mạch nước ngầm, người ta xây xi-măng hay đắp
đất chặn lại, cho nước chảy qua ba bốn cái ống bằng kim loại hay
bằng tre nứa, ở độ cao chừng một thước, và được gọi là “nước
giọt” (ia-chơnang). Bên Cheoreo, vì ở dưới thung lũng, rất ít
thấy những “giọt nước” như thế vì dân cư phần lớn ở dọc theo hai
con sông Ayun, Apa và các chi nhánh. Bên đó bà con lấy nước uống
bằng cách bới những hố giữa những cồn cát trên sông, múc nước đã
lọc qua cát rót vào quả bầu khô rồi gùi về nhà. Bên Plei-Kly này
thì người ta hứng lấy nước trực tiếp nơi các “giọt nước”. Sau
này dần dà trong làng có nhiều giếng nước hơn. Nhưng bà con
Jarai nói : nước giếng không ngon bằng nước giọt.
Sau khi tắm rửa xong, chúng tôi
về tới nhà Ami' H'Djhê' thì thấy có một cành lá tươi giắt phía
đầu cầu thang lên nhà. Kinh nghiệm những năm sống với người Koho
cho Cha Tài biết có “Wèr” (Jarai gọi là “kom” : kiêng kị). Và
đúng như thế, người nhà cho chúng tôi biết : Vì trong nhà có
người bệnh nên không thể cho khách đỗ nhà. Hư thực ra sao, không
cần biết, cứ cuốn gói cái đã ! Đi đâu bây giờ, tối rồi ! Lúc đó
có ông xã-trưởng là Ama Tên (cha của cu Tên) tới (chắc là ông đã
được nghe báo cáo và hỏi ý kiến). Oâng chỉ cho chúng tôi căn
phòng bỏ trống ở đầu nhà trường. Căn phòng này vốn dành cho thầy
cô, nhưng không có thầy cô nào ở cả, nên đã bị đàn dê trong làng
chiếm lĩnh. Vì là dê nên chúng không giữ vệ sinh gì ráo trọi.
Chúng phóng uế đầy phòng ! Mặc dù vậy hay chính vì vậy mà tối
hôm đó chúng bị trục xuất ra khỏi căn phòng chuồng dê ấy để
nhường chỗ cho chúng tôi. Chúng tôi vất vả lắm mới “trục xuất”
hết cả “phế phẩm” của chúng nữa ! Còn cái mùi tổng-hợp của chúng
thì chúng tôi đành chịu : phải chung sống với cái hương vị tổng
hợp đó thôi ! Sao mà giống Be-lem thế ! Nhưng không có cỏ rơm để
nằm ! Làm sao đây ? May quá có ông Cậy, người CG thôn Đôn-Hòa
gần đó, nghe nói hình như có Đức Cha và các Cha về Plei-Kly.
Oâng chạy tới lúc chúng tôi đang “xâm lược” chuồng dê. Nhờ ông
chúng tôi có mấy tấm chiếu để nằm. Oâng còn nài nỉ chúng tôi tạm
qua đêm bên Đôn Hòa nhà ông, tốt hơn. Nhưng chúng tôi đâu có
chịu. Ngày hôm sau ông cung cấp cho chúng tôi một chiếc giường
đơn duy nhất. Chiếc giường này chúng tôi dành cho Cha Tài : kính
lão đắc thọ ! Còn bọn trẻ, cứ trải chiếu nằm ngay trên sàn
xi-măng. Chính vì cái cảnh nằm ngay trên sàn xi-măng nên mới lại
có chuyện sau đây do chính Oâng Thầy Sáu Tín kể :
“Hình như hai hay ba tuần sau
khi chúng tôi dành được chỗ của bọn dê, tôi nhớ là trời hơi
lạnh, vào buổi sáng hay buổi trưa gì đó, chúng tôi đang đắp mền
ngủ nướng! Tôi tỉnh giấc vì cảm thấy dưới tấm mền đắp của tôi có
cái gì đó động đậy, trườn trườn lên phía ngực tôi. Hình như là
một con rắn ! Và tôi nhớ rằng trong trường hợp như thế người ta
căn dặn không được nhúc nhích, vì có thể làm cho con rắn giật
mình mổ ẩu. Tôi nằm im. Một lúc sau, tôi thấy cái đầu của nó với
cái lưỡi thậm thụt thò ra khỏi tấm mền phía vai trái của tôi.
Đúng là rắn! Một con rắn to! Tôi càng nằm im, nín thở. Nó trườn
ra ngoài, từ từ, nhẹ nhàng. Nhưng nó lại trườn qua phía anh Quân
nằm bên trái tôi. Và cũng từ từ, nhẹ nhàng, nó chui vào chăn anh
Quân! Khi nó đã khuất trong chăn anh Quân, tôi mới nhẹ nhàng
ngồi dậy, nhẹ nhàng đặt tay lên trán anh Quân lay nhẹ. Anh Quân
mở mắt nhìn tôi. Tôi ra dấu bảo anh nằm im rồi tôi nói : “Anh
phải nghe tôi, tuyệt đối nghe tôi. Anh phải nằm im, không cụ cựa
gì hết nghe chưa. Đợi đó” . . . Anh Quân hỏi: “Chi zậy” ??? Tôi
trả lời : “Anh phải nằm im tôi mới nói . . . Có con rắn trong
mền anh đó” . . . Vừa nghe đến rắn, anh Quân bung mền nhẩy dựng!
Con rắn lại trườn qua phía anh Mầu. Anh Mầu cũng nhẩy dựng! Con
rắn trườn vào gầm giường anh Tài. Chúng tôi loay hoay tìm không
ra cây gậy để đập nó, nên nó chuồn ra ngoài mất. Một phen hú vía
!
HỌC VỚI DÂN
ần dà thì chúng tôi cũng bắt đầu
có những người bạn Jarai. Họ là những em nhỏ đi học ở trường.
Chúng tôi do học tiếng mà làm quen với các em. Sau đó là chúng
tôi theo các em về nhà. Các em là những thầy cô dậy tiếng rất
chính xác, rõ ràng và nghiêm khắc. Sai là sửa liền. Không như
người lớn còn nể nang nhân nhượng. Sửa nhiều lần mà nói vẫn
không đúng là phê bình liền: pto'! mluk ! (ngu ! dốt ! điều này
làm chúng tôi nhớ tới Cha Giáo KT Nguyễn Thế Thuấn của chúng tôi
quá ! Ngài cũng hay la chúng tôi như thế). Đã nói cho rồi mà cứ
hỏi đi hỏi lại, liền bị phê : pluk ! . . . Khó dịch ra tiếng
Việt rồi ! . . . Thành thử không luôn luôn cần một từ tiếng Việt
tương đương. Cứ biết nó có nghĩa là : cử-hỏi-đi-hỏi-lại-miết. Mà
các em khi dạy tiếng như thế, các em lại không biết từ tương
đương tiếng Việt. Nhiều người lớn cũng thế. Mà như thế mới đúng
là học ngoại ngữ : đâu có cần dịch. Ấy là bước đầu học với dân.
Học ăn, học nói, học gói, học làm. . . Học nói rồi khám phá ra
văn, khám phá ra ý. Khám phá ra thể văn diễn tả ý . . . linh
động trong cuộc sống của dân, chứ không phải trong một cái
“viện” nào đó như thư-viện, hàn-lâm-viện . . . Chúng tôi bắt đầu
khám phá điều mà chúng tôi gọi là Đại-Học Nhân-Dân, học với Dân.
Dân dạy cho chúng tôi ăn. Ban
đầu, từ “chuồng dê”, chúng tôi thấy có nhiều người nam Jarai từ
sáng sớm họ ra đồng mang về những con chuột và bẫy chuột. Hỏi ra
thì biết rằng những bẫy chuột này dân Plei-Kly gọi là “đong”
(tạm dịch là “bẫy ống”). Nó là một ống tre hay nứa một đầu kín
một đầu hở, vừa cho con chuột chui vào. Sát phía đầu “kín” người
ta khoét bằng đầu một con dao nhọn (thong) hai cái lỗ trên dưới
để xuyên một cái cần cũng bằng tre dài khoảng 50cm, một đầu để
cắm xuống đất, đầu trên có cột một sợi giây. Đầu sợi dây lại cột
một que tre nhỏ, dài chừng 1cm50, dùng để khi kéo uốn cần tre
xuống thì gài được vào được một cái nấc nào đó bên trong ống. Ở
đáy ống có để một ít mồi : vài hạt gạo hay bắp. Người ta ghim
bẫy trên đường chuột thường di chuyển ở ngoài rẫy hay ruộng. Khi
chuột chui vào ống để ăn mồi, nó đụng phải que lẩy làm bật cái
cần lên kéo sợi giây xiết vào cổ con chuột. Con chuột bị kẹt
trong ống, không xoay xở được, và chết ngạt. Chúng tôi quan tâm
tới những cái bẫy, vì chúng có hình dáng rất đẹp. Nhưng người
dân Jarai, khi họ có những thứ ăn được, nhất là mồi săn bắt được
là họ chia sẻ. Và khi chúng tôi tìm hiểu cái bẫy chuột của họ
thì họ lại hỏi chúng tôi : “Gih bbong mơn tơkuih?” (các anh có
ăn chuột không?). Dĩ nhiên là chúng tôi trả lời : “Bbong mơn.”
(Aên chứ). Thế là họ cho chúng tôi hai ba con chuột luôn. “Samơ'
hyưm pơkra?” (nhưng mà làm cách nào đây?) Hai trong chúng tôi
(Thầy Sáu Tín Quân) là dân đồng quê, ăn chuột từ nhỏ. Nhưng
người Kinh thường nấu nước nóng để làm lông chuột, thui, mổ, bỏ
hết các bộ phận khác chỉ giữ lại tim gan. Còn người Jarai thui
(chuh) và cạo tro lông ngay, sau đó vứt bỏ dạ dày và phần ruột
già, còn giữ lại tất cả các bộ phận khác. Chúng tôi phải nhờ
người Jarai làm món thịt chuột theo kiểu của họ cho chúng tôi
ăn. Món chuột Jarai có thể nấu với mọi thứ rau, nhưng ngon nhất
vẫn là với rau “tenh-kơne”, với cà hay rau “tầu bay”, và gói lá
vùi than (kop) . . . Cái món “lòng chuột” Jarai cũng hết xảy (dĩ
nhiên là đối với ai hợp khẩu)! Người Jarai còn dạy chúng tôi nấu
và ăn các món “anham bblang” (lá mì : nhiều món ), “anham hboa”
(đọt nõn khoai môn dại - không biết nấu là ngứa xé cổ luôn!),
“anham teng-leng” (một thứ lá đắng nhưng lại rất đậm đà khi được
bóp với cá lóc nướng), “anham hla hang bơnga pơneh” (lá và hoa
đu đủ - có thể nấu loãng kèm bột gạo giã với “hla rơyao” - một
loại lá làm ngọt và mềm thức ăn - hay nấu khô trộn với đậu
phụng, bắp hay gạo rang - nếu có trộn với “wach” thì cực kỳ,
“wach” là thứ nước đắng trong lòng non các loài ăn cỏ), “anham
bruch”, “anham ser” (những món lá cây mà người Kinh không biết),
“anham abek” (dân Plei-Kly gọi “anham bie'”, món nòng nọc - khi
nấu nòng nọc tan ra được trộn với bột gạo hay bắp rang, trông
sền sệt như bùn nhưng ăn rất bùi), món “ayưn” (ấu trùng chuồn
chuồn) cũng tương tự, lại còn có món kiến vàng “hdôm-sao” nấu
với cá làm canh chua ăn ngon và bổ, nhất là vào mùa kiến đẻ
trứng và có ấu trùng. . .
Trên đây là mới kể một số món ăn
thông thường của người Jarai. Dĩ nhiên còn nhiều món ăn đặc sản
thuộc loại cá và động vật được nấu nướng theo kiểu Jarai. Vấn đề
cần lưu ý là việc thưởng thức những món ăn này làm cho khách và
chủ gần gũi nhau, làm cho người lạ thành người thân quen, nhất
là khi người lạ “ghiền” những món ăn đó. Những món ăn Jarai
không hề thiếu chất dinh dưỡng như người ta nghĩ. Cũng như nhiều
món ăn của người Việt, những món ăn Jarai bao gồm cả những dược
liệu như ớt, riềng, sả, é . . . Việc nấu nướng đã là một nét
văn-hóa, và việc ăn uống cũng lại là một nét văn hóa nữa. Lúc
ban đầu, dùng những món ăn Jarai làm chúng tôi gần họ hơn, hiểu
họ hơn, học được nhiều hơn. Chí ít cũng biết được nhiều từ hơn.
Như có một hôm thấy một em bé cầm một con dế, tôi liền hỏi em :
“Hgơt anun?” (Cái gì đó). Em trả lời : “Klir” (tôi biết đó là
một con dế). Em nhỏ hỏi lại tôi : “Ih kiang bbong mơh?” (Anh có
muốn ăn không?). Tôi ngạc nhiên trả lời “ư-ưh” không, vì tôi
tưởng dế là để chơi thôi. Vả lại em có mỗi một con dế ! Chúng ta
biết rằng cào cào, dế, mối, thằn lằn, rắn, rết . . . là những
thứ rất giầu chất đạm và rất bổ.
Cử chỉ của em bé Jarai muốn chia
sẻ cho tôi con dế của em : “Ih kiang bbong mơh?” Nếu tôi nói có,
em sẽ cho tôi tức khắc và sẽ nhớ tôi mãi, cũng như tôi luôn nhớ
em như lúc này. Người Jarai khi săn bắt được thứ gì cũng đều sẵn
sàng chia sớt cho nhau, cho dẫu lắm khi chỉ là một gói “kiến
vàng”, một nhúm “lòng cá” (Jarai gọi là “eh akan” : cứt cá - một
loại mắm ruột cá). Chưa nói khi săn được con mồi lớn như hươu,
nai . . . Người Jarai gọi là “miếng to miếng nhỏ gì cũng nhớ tới
nhau” (anham net anham prong at hodor nao rei mơn). Vì thế có
câu “kơbao hơdip kơbao pô ta, kơbao djai kơbao plơi-pla” (trâu
sống là trâu của mình, trâu chết là trâu của cả làng). Lúc làm
thịt một con trâu như vậy, nhà nào cũng đuợc một que xâu cả da
cả thịt. Chưa kể đến những ai được mời tới ăn uống tại nhà.
Miếng ăn tình nghĩa. Miếng ăn liên đới. Miếng ăn tạ ơn. Vì người
cùng làng với nhau thì mang ơn nhau nhiều lắm. Làm gì, đi đâu
cũng phải có nhau, cũng phải nhờ nhau. “Je' hdah krah mlam giam
mnu' tjo'” (sớm hôm gà gáy = tối lửa tắt đèn) đều có nhau.
Nhân nói tới miếng ăn nghĩa tình.
Tôi lại nhớ một ngày kia, khi chúng vẫn còn trú trong căn phòng
“chuồng dê”â đó, có ông Ama Ker (Bố của thằng Ker) hớt ha hớt
hải chạy tới và nói : “Xin các ông xuống nhà tôi ngay, thằng con
tôi bệnh nặng sắp chết !” Không hiểu ông ấy coi chúng tôi là thứ
người nào mà con sắp chết lại cầu cứu tới chúng tôi ? Dẫu sao
thì Cha Tài, các anh Thầy Sáu Tín và Mầu cũng theo ông ấy về
làng Plei-Lao, cách chúng tôi gần 2 cây số. Chúng tôi chưa tới
làng đó bao giờ. Như thế đủ biết sự có mặt của chúng tôi ở
Plei-Kly đã được đồn thổi ra những làng chung quanh. Trước khi
xuống Plei-Lao, Cha Tài vẫn ghé qua trạm xá, kêu y-tá Hộ, một
người CG đi theo cho chắc ăn. Xuống đến làng Plei-Lao, lên căn
nhà sàn của Ama Ker, thấy cháu Ker, một bé trai khoảng 10 tuổi,
đang nằm mê man trên giường. Anh Hộ bắt mạch, nghe tim, nghe
phổi em. Sau đó anh lắc đầu và nói anh không giám tiêm thuốc hay
làm gì cả vì tình trạng của em rất nguy kịch. Oâng Ama Ker nói :
“Anh cứ tiêm thuốc cho cháu. Có gì tôi chịu, tôi không bắt đền
anh đâu!” Oâng nài nỉ miết, anh Hộ cũng tiêm cho em. Trong khi
đó, Cha Tài đã giơ tay cầu nguyện. Thấy thế chúng tôi cùng đặt
tay cầu nguyện cho em. Cha Tài là người đầu tiên trong nhóm
chúng hay cầu nguyện tự phát cho bất cứ ai xin. Chúng tôi mới
mãn Học-Viện, chúng tôi chưa quen cầu nguyện hồn nhiên như thế.
Cháu Ker vẫn ngủ, nhưng nhịp tim, nhịp thở đều hơn và cơn sốt
cũng không còn nữa. Một lúc sau chúng tôi ra về. Sau đó một hai
tuần gì đó, Thầy Sáu Tín Mầu lại lang thang xuống Plei-Lao để
tìm hiểu và học tiếng. Chúng tôi tình cờ gặp lại Ama Ker. Oâng
nhất định đòi chúng tôi phải lên nhà ông chơi. Khi đã lên nhà,
ông giải chiếu mời chúng tôi ngồi, đem quả bầu đựng nước mời
chúng tôi uống, chụm bếp lửa. Lúc đó trong nhà chỉ có một mình
ông, những người khác đều đi làm ngoài nương đồng. Không thấy
thằng Ker. Hỏi thì ông bảo nó đi chơi đâu đó. Như vậy là nó đã
khoẻ. Vừa nói chuyện, ông vừa cột một ghè rượu nhỏ. Chúng tôi
can không nổi. Tưởng chỉ có thế, nhưng ông đã xuống nhà, và
chúng tôi nghe tiếng heo kêu eng éc. Một lúc sau ông lên lại nhà
xách theo một con heo sữa đã bị ông đập chết ! Oâng thui nó làm
lông, đặt lên một cái nia, mổ xẻ, nấu và nướng ngay trước mặt
chúng tôi, không tốn một giọt nước. Chỉ có bộ lòng là phải rửa.
Chúng tôi nói ông làm như thế chúng tôi áy náy quá ! Oâng nói
ông muốn cám ơn chúng tôi vì đã giúp cho con ông được lành mạnh.
Rượu ghè hôm đó ngon, lại uống kèm với thịt heo sữa nướng nữa
thì “đậm đà khó quên” ! Và dĩ nhiên là chúng tôi cũng không quên
được những con người ấy, tiếng nói của họ, tâm tình và thái độ
của họ. Đúng là miếng ăn tình nghĩa. Chúng tôi ở lại nhà đó mãi
cho tới chiều tà mới ra về. Gia-đình Ama Ker sau này theo Tin
Lành. Còn cháu Ker sau này lớn lên trở thành một thợ săn thiện
xạ, bách phát bách trúng.
LÀM DÂN VỚI DÂN
ứ như thế chúng tôi vừahọc ăn,
vừa học nói, vừa học làm với dân. Đã bắt đầu bước vào mùa gặt
lúa. Lúc đó dân còn trồng thứ lúa cũ dài ngày thân cao. Có mấy
giống lúa ăn rất ngon và thơm cơm như “pơdai Gor”, “pơdai Lao”,
nhất là ăn kèm với món “akan se, akan bloanh kop” (cá lẻm, cá
bống con trộn muối ớt gói lá vùi than) vốn sẵn trong mùa gặt,
thì nói theo kiểu Jarai là “wor-bit phung kơnung abih-bbihao” (quên
hết họ hàng luôn)! Hồi đó nhiều người còn suốt lúa bằng tay,
không cắt bằng liềm, vì sợ xúc phạm và làm đau cây lúa. Chúng
tôi cũng đi suốt lúa bằng tay với họ : tưởng đau tay và ghê rợn
lắm nhưng cũng không đến nỗi nào. Đi suốt lúa như thế, thì mình
sẽ luôn có phần lúa của mình gùi về (bằng hay gần bằng một thùng
thiếc). Chúng tôi cũng được trả công như thế, và không thể từ
chối. Đã làm với nhau, không chỉ một mình mình có ăn mà cả
những người trong nhà mình cũng có ăn. Rất tiếc nếu sự công bình
không phải chỉ là công-bình cá nhân này mất đi. Thực sự là nó
đang mất đi theo lối trả công cá nhân chủ-nghĩa của một xã-hội
“cân đo đong đếm” gọi là “công-nghiệp-hóa, hiện-đại-hóa”.
Dần dà thì người làng cũng nhận
ra chúng tôi : không phải là nhân viên Nhà Nước kiểu cán bộ nông
thôn hay sơn thôn như thường thấy thời đó. Họ gọi chúng tôi là
“bbing Ơi Khop”. “Khop” hay “Đạo Khop” là từ người Jarai dùng để
chỉ Đạo Công-Giáo và từ “Khop” là tiếng Banar có nghĩa là “đọc
kinh” – “Đạo đọc kinh” : đó là đặc điểm người thiểu số nói chung
thấy nơi người CG Việt-Nam! Chúng tôi xin họ đừng gọi chúng tôi
là “Đạo Khop”, hay “Ơi Khop”. Chúng tôi là Công-Giáo, “Đạo Ơi
Adai” (Đạo Đức Chúa Trời) vậy thôi. Để sau này sẽ cùng nhau tìm
xem nên gọi như thế nào, còn bây giờ cứ tạm như thế đã. Và bây
giờ cứ gọi chúng tôi như gọi mọi người : đáng anh thì kêu anh,
đáng em thì kêu em, đáng con thì kêu con, đáng cháu thì kêu cháu
. . . Các ông bà già thường gọi chúng tôi là “t'chô” (cháu -
của ông của bà - còn cháu cô cháu bác lại gọi là “amon”). Những
người trẻ hơn thường gọi chúng tôi là “ayong” (anh). Vào thời
này có một em bé gái đầu tiên xin theo Đạo : Kpă H'Dup. Em nhất
định đòi mẹ sắm áo váy mới để em theo chúng tôi ngày Chúa Nhật
qua bên thôn Đôn Hòa dự lễ với vài ba gia đình người Kinh. Chúng
tôi cũng không từ chối em được. Nhưng hai mươi năm sau, mãi tới
1989 H'Dup mới được thanh tẩy cùng với chồng con.
Tới tháng 12/1969, chúng tôi xin
làng Plei-Kly cho chúng tôi một miếng đất ở trong làng, và cùng
với dân làng dựng lên một căn nhà sàn bằng gỗ, lợp tôn, dài
chừng 15m, rộng 5m. Và tới lễ Giáng Sinh năm đó, anh em chúng
tôi cùng nhau lên ở căn nhà sàn đó, trả lại căn phòng của chúng
tôi cho bầy dê. Trước đó mấy ngày có Cha Phán và mấy bạn Thanh
Lao Công tới thăm chúng tôi. Từ hồi Cha Tài còn sống giữa người
Koho ở Koya thuộc Giáo-Điểm Phi-Yang, Cha Phán đã chú tâm tới
lối sống giữa những người dân-tộc ít người, và đã có tới thăm
Cha Tài như đi tìm một diệu cảm, mặc dù lúc đó Cha đang hoạt
động theo Thanh Lao Công. Vào đầu năm 1970, khoảng tháng 2 tháng
3, những vị khách xa đầu tiên tới Plei-Kly chúng tôi là Cha Giám
Tỉnh H. Bạch-Văn-Lộc với Cha Tổng Quyền và Cha Tổng Quản Lý
người Aán-Độ. Các ngài qua đêm trên căn nhà sàn của chúng tôi và
xác định cho chúng tôi rằng chúng tôi đang đi đúng hướng. Ngày
hôm sau, Cha Tài và Thầy Sáu Thầy Sáu Tín đưa các vị về lại
Pleiku trên một chiếc xe Jeep. Gần đến núi Hàm Rồng (Chư'
H'Drung) thì xe trục trặc chết máy. Loay hoay mãi, rồi Cha Giám
Tỉnh, Cha Tổng Quyền, Cha Tổng Quản Lý cũng phải xuống xe cùng .
. . đẩy. Năm thì bảy lượt, mệt bở hơi tai, xe vẫn không nổ máy.
Lại loay hoay coi lại máy. Cha Giảm Tỉnh H. Lộc lên cầm lái
thay Cha Tài. Xe vẫn không nổ máy. Lại đẩy một đợt nữa. Cũng
không có kết qủa. Có ai đó bỗng nhớ tới contact : Hoá ra đẩy xe
mà không mở contact xe! Khi mở contact xe lần này, xe nổ máy! Ai
nấy thở phào. Khi lên xe, Cha Tổng Quyền bắt đền Cha Tổng Quản
Lý và đòi Cha Tổng Quản Lý phải trả tiền phụ trội cho một ngày
vất vả đó. Cha Giám Tỉnh H. Bạch-Văn-Lộc còn thăm đột xuất một
lần khác trong năm 1970. Vì đột xuất nên anh em không có gì đặc
biệt cho Ngài dùng bữa cả. Chính vì thế mà khi về Sài-gòn, ngài
nói với anh em : “Tụi Plei-Kly nó ăn tầm bậy tầm bạ. Mình lên,
tụi nó vơ đâu mấy thứ rau cỏ ngoài rừng cho mình ăn”! Thực ra
hôm đó, tụi tôi hái vội mấy nắm rau “tầu bay” nấu canh ngon lắm
chớ! Hồi đó chúng tôi thường thủ ít tôm khô : tôm khô bảo quản
được lâu, nấu với rau gì cũng ngon ngọt hết! Thường là anh Thầy
Sáu Tín lo bếp núc, bửa củi, gánh nước. Chúng tôi chưa có giếng
riêng, nên chỉ có anh Thầy Sáu Tín biết đi gánh nước bên giếng
nhà bên cạnh (Nhà Ami' Phin). Các anh khác không biết gánh nước
trên vai. Người Jarai thì gùi nước trong những quả bầu khô. Như
vậy mỗi lần được ít lắm. Dù sao thì mấy người đàn ông trong
làng mỗi khi thấy anh Thầy Sáu Tín bửa củi hay gánh nước, họ
cũng trêu : “Bbu djơ' tah!” (không được rồi!) Không được là làm
sao ? Việc củi nước (djuh ia) là việc của đàn bà, anh làm như
thế là không được, lấy vợ đi ! Lần này thì đến lượt anh Thầy Sáu
Tín nói : “Bbu djơ' tah!”. Dù sao chuyện bếp núc cũng được giải
quyết một phần nào đó vào khoảng tháng 2 tháng 3/1970, không
phải theo giải pháp của mấy người đàn ông trong làng, nhưng do
một người đàn ông khác :
THẦY HILAIRE
THẢO DÒNG CHÚA CỨU
THẾ
hầy tự nguyện xin Bề Trên cho
nhập Nhóm Plei-Kly. Một bất ngờ cho mọi người. Thầy đảm nhận bếp
núc và làm vườn rau. Có thầy vườn rau bao giờ cũng sạch cỏ. Thầy
hay làm bánh bao hấp trong thùng phi : Bánh bao giã chiến ! Với
nhân nghèo nàn, không trứng gà, trứng cút hay mộc nhĩ : đậm đà
mà dễ quên ! Anh em gọi Thầy theo tên tu dòng là Hilaire. Còn
dân làng, nhất là lũ trẻ gần gũi và thường được thưởng thức bánh
bao của Thầy đều gọi Thầy là “Ayong Tơngil” (Anh Điếc) vì Thầy
nặng tai bởi một thời phải nghe đại bác quá nhiều. Thầy còn bị
thấp khớp. Chẳng ai trong chúng tôi biết Thầy bị thấp khớp nếu
không có chuyện sau đây :
Một hôm đi làm về, có cậu bé
Chir lo lắng hỏi anh Thầy Sáu Tín : “Anh ơi, Anh Điếc làm bùa
ngải gì đó em sợ lắm!” – “Tầm bậy, Anh Điếc mà bùa ngải gì ! Anh
ấy làm gì nào?” – “Anh ấy bảo em đái vào một cái lon, nấu sôi
lên, đổ lên một hòn gạch nung nóng, rồi đạp cả hai chân lên - em
sợ anh ấy làm bùa phép gì đó . . . hại em!” - Anh Thầy Sáu Tín
trấn an tụi nhỏ : “Đừng lo ! Anh Điếc xông chân bằng nước tiểu
kiểu đó chắc để chữa bệnh thấp khớp đó.” Hỏi ra thì đúng như thế
thật. Nhưng “niệu liệu pháp” của Thầy hình như không hiệu
nghiệm, vì trải qua mùa mưa năm đó bước vào mùa thu, bệnh thấp
khớp gia tăng. Và Thầy Hilaire tự động rời Nhóm một cách âm thầm
như khi Thầy đến. Chúng tôi nhờ ông già Năm tới lo việc bếp núc
thay Thầy.
Thầy rời Nhóm, nhưng lòng Thầy
không xa Nhóm. Sau năm 1975, Thầy phục vụ ở Cần Giờ, gần biển có
lợi cho việc điều trị bệnh thấp khớp. Vẫn cứ lủi thủi, áo quần
xốc xếch và lấm láp, đầu đội cái mũ cối bằng nhựa không biết
lượm được ở đâu và cả ngày đi dọn rác và đắp đường cho dân. Có
một lần Anh Thầy Sáu Tín đã tới Cần Giờ và chính mắt anh đã thấy
Thầy như thế. Chính Quyền Xã phải phong Thầy là Anh Hùng Lao-Động
của Xã, và Thầy được cấp tiền lương. Chẳng biết được bao nhiêu.
Chỉ biết sau năm 1980, mỗi năm khi gặp Thầy, Thầy vẫn dúi cho
anh em chúng tôi một hay hai trăm ngàn đồng “để làm việc tông-đồ”!
Thầy vẫn giữ cái tật dấu bệnh. Thầy bị sa ruột mà chẳng nói cho
ai cả. Đến một hôm bị cảm sốt dai dẳng phải khám bác sĩ. Bác sĩ
thấy ông cụ quấn chặt bụng bằng một cái khăn gì đó. Hỏi thì cụ
bảo đau bụng, quấn như thế đỡ đau. Khám ra mới biết cụ sa ruột!
Bảo cụ phải ngưng lao-động ngay và chuẩn bị mổ thì cụ lại nói :
“Không sao đâu, tôi chịu được mà, bấy lâu nay tôi cứ cột bụng mà
vẫn làm việc được mà!” Bác sĩ đâu có chịu. Thầy Hilaire là thế
đó. Năm 2000, bỗng các Thầy ghé thăm Plei-Kly. Bà con Jarai thấy
Thầy Hilaire là ôm chầm lấy kêu to : Ơ Ayong Tơngil rei ! Ơ
Ayong Tơngil rei ! (Oâi Anh Điếc đến ! Oâi Anh Điếc đến !) Có
những giọt nước mắt rơi. Chúng tôi nói : Bây giờ Thầy già rồi,
mời Thầy về lại Plei-Kly với điều kiện là không được làm việc
nhiều và dĩ nhiên . . . không được dấu bệnh. Oâng cụ bảo : Xin
Cha Giám Tỉnh đi! Tụi tôi có xin Cha Giám Tỉnh, nhưng đợi sau
mùa mưa và mùa lạnh kẻo Thầy lại bị thấp khớp. Nhưng sau mùa mưa
và mùa lạnh thì cụ lại bị đau bệnh khác - và vẫn vì thế mà cụ
không lên lại Plei-Kly, sợ thêm gánh nặng cho anh em.
ANH CHỊ EM
GIÁO-DÂN
hi Thầy Hilaire rời Nhóm, không
biết Cha Tài tìm đâu được Oâng Năm, một ông già run tay run chân,
tới lo việc bếp núc. Lại có Cô Chín, người Qui-Nhơn, một lần
nghe Cha Tài giảng, đã xin đi theo để phục-vụ Truyền-Giáo. Cha
Tài đã có thói quen chiêu mộ giáo-dân làm việc truyền-giáo từ
khi còn ở với người Kơho phía Phi-Yang. Một trong những người
thời đó là Cô Lệ, người Vĩnh-Long. Cô đã đi học làm Bác-Sĩ tại
Đai-Hoc Y Huế có ý trở về phục-vụ cho bà con thiểu số. Nhưng sau
1975, vì thời cuộc và vì cha già cô không lên được Tây-Nguyên.
Sau cô Chín lại có anh Oánh từ Sài-gòn xin gia-nhập Nhóm. Tại
địa-phương thì Cha Tài huy-động được những giáo-dân người Kinh
tham gia vào những công việc vật chất như làm nhà,trồng trọt.
Ngoài căn nhà sàn chúng tôi ở, Cha Tài còn huy động anh em Kinh
Thượng làm một căn nhà “Rông” (sang rung) rất xinh (5m x 15m),
tất cả bằng gỗ sao, mái lợp tôn. Ngôi nhà “Rông” này do anh em
Bahnar Plei-Thong-A hướng dẫn và cùng thực hiện. Theo truyền
thống xưa “sang rung” là nơi hội họp, cúng tế của dân làng. Xưa
đó cũng là nơi các “dam rung” (trai tráng) ngủ tập trung ban đêm
để kịp ứng phó với mọi tình huống có thể sảy ra. Nay phía Jarai
Plei-Kly không còn thấy có “sang rung” nữa. Nhưng thanh thiếu
niên vẫn có thói quen ban đêm chia nhau ngủ chung ở những nhà
nào đó mà chúng thấy phù-hợp. Bọn nam thanh thiếu niên ít khi
ngủ tại nhà mình với cha mẹ. Căn Nhà Rông Cha Tài cho dựng lên
được dùng làm Nhà Nguyện của chúng tôi. Việc tham gia của anh
chị em giáo dân (có người ở trọn thời gian với Nhóm như Cô Chín
từ Qui-Nhơn, Anh Oánh từ Sài-gòn lúc đó), có người bán thời gian
(như ông Cậy, Oâng Cẩn tại Phú-Nhơn, anh Bính, Anh Hồng từ
Mỹ-Thạch, anh Dung từ Pleiku. . .), làm cho chúng tôi có ý tưởng
ao ước thiết lập một “Nhóm Mở” (open team) có thể bao gồm tu-sĩ,
linh-mục của nhiều Hội Dòng khác nhau, anh chị em giáo-dân nam
nữ, thậm chí cả những người thuộc các tôn giáo khác, miễn là yêu
mến và dấn thân phục-vụ người thiểu số, mỗi người theo khả năng
riêng của mình.
THẦY MARCÔ ĐÀN
DÒNG CHÚA CỨU THẾ
hầy Hilaire rời Nhóm thì Thầy
Marcô Đàn nhập Nhóm. Vào khoảng tháng 8/1970, Trần-Sĩ-Thầy Sáu
Tín trong một lần về Sài-Gòn có nghe Thầy Marcô học châm cứu và
thi đậu xuất sắc. Vốn đã là y-tá tây-y, Thầy nghiên cứu thêm
thuốc Nam. Thế là vào một bữa trưa ngôi gần Thầy, Trần-Sĩ-Thầy
Sáu Tín rủ-rê : “Thầy ơi lên Plei-Kly với tụi con đi. Trong Nhóm
chẳng có anh nào chuyên về thuốc cả. Mà người Thượng lại cứ đến
xin thuốc hằng ngày. Thầy biết châm cứu, Thầy lại biết cả thuốc
Nam, thế là phù hợp quá rồi! . . .” Thầy chỉ mỉm cười, chẳng ừ
chẳng rằng. Thầy là thầy dạy sử-địa cho Trần-sĩ-Thầy Sáu Tín ở
lớp 7è. Năm 1970 đó Thầy cũng 52-53 tuổi rồi. Còn Trần-Si-Thầy
Sáu Tín mới 29. Đâu có dám nói gì thêm. Lại biết rằng sức khoẻ
của Thầy không được tốt lắm. Thế rồi bỗng nhiên vào tháng
10/1970, Thầy xuất hiện tại Plei-Kly. Lập tức Thầy có rất nhiều
bệnh nhân, cả Kinh cả Thượng, cả lương cả giáo. Thày chữa bệnh
miễn phí. Con số bệnh nhân chứng tỏ khả năng của Thầy. Cả những
người Kinh từ Pleiku, cách 60km, cũng lặn lội đến với Thầy. Xin
đơn cử ra ba trường hợp chữa bệnh của Thầy.
Siu H'Mi, lúc đó là một bé gái
một hay dưới một tuổi, nhà ở ngay phía đông nhà chúng tôi. Bỗng
một hôm từ trong nhà có nhiều khóc la kiểu khóc người chết
(chok hia) : đó là cha mẹ và bà con la khóc vì bé H'Mi nguy tử!
Thầy Markô và anh em chúng tôi vội chạy qua. Bé H'Mi đang cơn co
giật. Thầy Markô bắt mạch rồi rút kim châm cho em vài mũi. Em
hết co giật, cơn sốt hạ dần. Đối với người Jarai thì đúng là
chết sống lại. Mà nếu cứ để như thế thì thực sự bé H'Mi khó mà
qua khỏi. Nay Siu H'Mi đã có gia-đình, con cái đùm đề.
Siu H'Kot, làng Plei-Kia, lúc đó
cũng là một cô bé khoảng 9-10 tuổi. Người nhà hớt hải tới cầu
cứu Thầy Markô. Chúng tôi chạy theo Thầy qua làng Plei-Kia. Lên
nhà thì thấy Siu H'Kot sốt mê man lại chảy máu mũi, máu miệng :
người Jarai rất sợ máu vào những trường hợp như thế này. Thầy
Markô cũng bắt mạch và cũng một vài mũi kim vào những huyệt cần
thiết (lần này chúng tôi thấy Thầy châm cả huyệt âm-hộ). Hết
chảy máu, hết sốt. Không biết có phải vì lần lâm bệnh này mà sau
Siu H'Kot không có con? Siu H'Kot đã lấy anh rể theo tục “hdui
nuêi” : khi người chị chết, chồng người chị có thể xin cưới cô
em vợ. Sau 1975, chị của Siu H'Kot đi làm rẫy cuốc phải đầu đạn
M79 và tử nạn. Người rể dòng họ Rmah xin tiếp tục làm rể dòng họ
Siu. Hai bên cùng quí mến nhau. Thế là dòng họ Siu phải tìm cho
anh một người vợ họ Siu. Không có ai thích hợp bằng Siu H'Kot,
em ruột người quá cố,con của chị cũng được coi là con của em. Có
những nơi gọi là “ami' net, ami' prong” (mẹ lớn mẹ nhỏ). Khác
với vợ kế được con chồng gọi là “neh” (dì) chứng không gọi là
“ami'” (mẹ). Trong trường hợp mồ côi dù cha hay mẹ thì con cái
luôn được bà hay chị em bên ngoại lãnh trách nhiệm dưỡng dục.
Nhưng Siu H'Kot lúc đó mới có 13-14 tuổi. Anh Rmah bằng lòng chờ
đợi hai ba năm sau mới làm lễ thành hôn. Nhưng sau đó thấy hai
người không có con được với nhau.
Kpă H'. . . , làng Plei-Kly, đã
lấy chồng, nhưng trong một lần xích mích với chồng đã uống một
thứ thuốc gì đó mà chỉ một số người Jarai nào đó biết, để khỏi
sinh con cho người chồng đáng ghét! Nhưng có phải người ta đáng
ghét mãi đâu! Rồi cũng đến lúc nguôi ngoai, lại thấy người ta
đáng thương và dễ thương! Tới lúc đó muốn có con lại không biết
thuốc chữa! Thế là phải chạy tới Thầy Markô. Thầy bảo khó đó.
Nhưng để coi coi. Thầy châm cứu. Rồi cho uống một vài thứ dược
thảo nào đó mà cũng chỉ một mình Thầy biết. Năm sau, Kpă H'. . .
cho ra đời một bé gái đặt tên Kpă H'Nham. Năm sau nữa lại sinh
thêm một bé gái đặt tên là Kpă H'Prin. Người Jarai rất quí con
gái, vì con gái mới là con của mình (nó cho mình có con rể đến ở
nhà mình, lại cho mình những đức cháu mang dòng họ mình), còn
con trai là con của người ta (khi lấy vợ là ở nhà vợ, con cái
sinh ra đều mang họ nhà vợ). Nhưng khi gia-đình Kpă H'. . . nhờ
thuốc của Thầy Markô mà sinh được hai người con gái quí báu như
thế thì Thầy Markô không còn ở lại Plei-Kly, không còn ở lại
trên dương gian nữa!
CÙNG LÀM KIẾP
RUỒI MUỖI
iữa tháng ba 1971, Quân Đội Giải
Phóng Miền Nam (tên gọi thời đó của Quân Cộng Sản) tiến công
Quận-Lỵ Phú-Nhơn (cách làng Plei-Kly không đầy 1km). Trận đánh
này là để “chia lửa” với trận Khe Sanh Nam Lào (Quân Mỹ và Quân
Quốc Gia phối hợp đánh lớn ở Nam Lào nhằm cắt đứt đường
Hồ-Chí-Minh, đường Trường Sơn vận chuyển Bắc-Nam, nhưng họ thất
bại lớn). Vùng Pleikly-PhúNhơn cũng như nhiều vùng khác thời đó
được gọi là vùng “xôi đậu” nghĩa là vùng Quân Quốc Gia tạm
chiếm, nhưng Quân Cộng Sản vẫn trà trộn trong đó. Ban ngày Quốc
Gia, ban đêm Cộng Sản. Ban ngày dân làng chúng tôi không dám xa
làng 1km vào rừng, vì đã là vùng hoạt động của Quân CS, và bởi
đó đã là vùng oanh tạc tự do của Quân QG! Đêm nào dân cũng nghe
hai bên bắn nhau, oanh kích nhau. Đạn to đạn nhỏ cứ bay qua bay
lại trên đầu dân, và thỉnh thoảng lại bay lạc vào chính người
dân. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết! Nhưng giữa tháng ba 1971
là một trận đánh lớn.
Như thường lệ dân chẳng biết gì.
Dân làng Plei-Kia có Lễ Hội “Bỏ Mả” (Pơthi Pơsat). Sau khi
an-táng, người Jarai có ba ngày “pot kuai'” (người thân ra vun
quén, sửa sang cho ngôi nhà mồ). Sau đó một tháng là “huă mơnơi”
(qua lần “ăn” long trọng này, người chồng hay người vợ của người
quá cố mới được phép “tắm”). Sau đó là “huă blan” (tháng tháng
cả họ hàng thân thuộc đem rượu ra uống ngoài nhà mồ một ngày).
Giữa đó là “huă lui asơi” (“ăn” lễ này để thôi không mang cơm
hằng ngày ra nhà mồ cho người quá cố nữa). Sau một hai năm, “ăn”
lễ đoạn tang (huă tlaih kơmai : người phối ngẫu được quyền lập
gia đình mới). Rồi vào một năm nào đó, với sự đồng ý phối hợp
giữa tất cả những gia đình cùng một dòng họ có thân nhân quá
vãng cùng chôn trong một nhà mồ, họ tổ chức lễ “Bỏ Mả”. Từ nay
thời gian vương vấn giữa người chết đã kết thúc : “lon pleh, deh
pha, ia pơkon” (“đất đổi, quê xa, nước lạ” không còn gì chung
chạ với nhau nữa). Đây là một Lễ Hội lớn qui tụ thân bằng quyến
thuộc nội ngoại bạn bè khắp nơi. Người ta có thể làm thịt hằng
chục, vài chục con trâu bò heo. Trước đó cả tháng, người ta kiếm
cây, cắt tranh, đẽo gọt những “tượng nhà mồ”, làm mới và trang
hoàng nhà mồ rực rỡ. Mọi người nô nức chuẩn bị. Tối nào anh Thầy
Sáu Tín cũng theo đám cồng chiêng tập cho được. Anh đã đánh
“ching bet” (chiêng nhịp), đánh được “ching ania” (chiêng trầm),
bây giờ ráng học cho được “ching 'sar” (chiêng đơn : chiêng đánh
theo bài hát, mỗi một cái chiêng là một dấu nhạc, phải thuộc bài
để đến nốt nhạc của mình là gõ, quên là hỏng cả bài, hỏng cả
đám!).
Thế là vào cái đêm 12/3/1971 đó,
khai hội “Nhà Mồ” tại nghĩa trang làng Plei-Kia. Họ hàng làng
xóm xa gần kéo nhau về rất đông vui. Đây là dịp để trình diễn
các bộ váy áo và khố thổ cẩm rất trang nhã và mỹ-thuật. Không
biết có bao nhiêu bộ chiêng được đem đến : những đoàn chiêng nổi
tiếng lúc đó là : đoàn chiêng Plei-Lao, đoàn chiêng Plei-Djrêk,
đoàn chiêng Bahnar của Plei-Thong-A, đoàn chiêng Plei-Luh . . .
Chắc chắn phải là những bộ chiêng có cung giọng hay nhất và mạnh
nhất. Vì có lúc hai ba bộ chiêng cùng tấu, và mỗi bộ chiêng phải
có cung giọng rõ đủ, mạnh đủ, vững đủ cho đoàn “suang” của làng
mình nghe được mà múa phụ họa không lẫn lộn với các đoàn khác.
Ngấm ngầm ở dưới có một sự thi đua xem ai hay hơn, đều hơn, đẹp
hơn, nhịp nhàng hơn, mạnh mẽ hơn. . . Cho nên có thể sảy ra “đấu
chiêng” (juă ching): có những đoàn cồng chiêng với đoàn múa phụ
họa của mình “đã” quá, sau khi đi được mấy vòng “Nhà Mồ” rồi,
không chịu rút ra nhường chỗ cho các đoàn khác, mà cứ mải mê
“chơi” miết, ỷ vào chiêng mình mạnh, nên tới một lúc nào đó, do
âm thanh cộng hưởng thế nào đó làm cho bộ chiêng yếu “bể” rạn
nứt luôn (chah ching), không xài được nữa. Nên lưu ý là chiêng
bể do không chịu nổi âm thanh cộng hưởng hơn là do nghệ nhân gõ
quá mạnh. Vì tiếng Jarai nói “toong ching” (vuốt, uốn nắn âm
điệu cồng chiêng bằng cả hai tay cho nhặt khoan) chứ không nói
là “taih ching” (đánh chiêng). Trong trường hợp này, cho dù anh
thuộc bài, anh vẫn bị coi là “bbu thâo” : “không biết”, không
sành, thô. Cũng nên biết rằng trong bộ tộc Jarai chỉ có đàn ông
con trai mới “toong ching”.
Cứ như thế từ chập tối cho tới
khuya, hết đoàn này đếùn đoàn nọ thay nhau “yun suang” (nhún
múa). Có khi vòng trong vòng ngoài. Thường vòng trong dành cho
người có tuổi. Vòng ngoài dành cho lớp trẻ. Vòng trong khoan
thai hơn. Vòng ngoài mạnh mẽ và nhộn nhịp hơn. Vòng trong có thể
có nhóm chỉ gồm các bà, các cô, váy áo chỉnh tề và đặc biệt, áo
có gắn những tấm chì đúc mỏng (hnar) với những hoa văn tinh tế
suốt cánh tay, lại có xâu chuỗi đủ màu gắn hai bên nách (anhu'),
đầu mỗi xâu có cài những lục lặc nho nhỏ phát ra những âm thanh
leng keng khi họ nhún nhảy. Nhóm này nhún nhảy theo một điệu cổ
truyền phức tạp hơn thường với những kiểu chắp tay, buông tay,
xoay trái, xoay phải, lắc mông nhè nhẹ, chậm rãi, nhịp nhàng
theo điệu chiêng. Trong nhóm này không có đàn ông. Oâng nào hứng
khởi muốn tham gia thì múa tự do một mình (solo). Nhóm này cho
thấy bản chất của “yun suang” Jarai không phải hướng ngoại như
ta tưởng, nhưng là hướng nội vì nội dung của các bài cồng chiêng
phần lớn là những bài gợi nhớ đến những kỷ niệm về những con
người và những phong cảnh núi rừng sông suối buôn làng thân
thương. Dĩ nhiên cũng có những bài cồng chiêng rộn ràng phấn
chấn. Lại có cái nhóm “yun gor”: một trống cái, một người gõ
nhưng lại có tới bốn hay sáu người khiêng. Có thể là toàn đàn
ông. Có thể là toàn đàn bà. Cũng có thể cả đàn ông, cả đàn bà.
Vừa khiêng vừa nhún nhẩy, vừa hát hò. Một người xướng, mọi người
đáp. Thường cái đám này nhộn nhất. Giữa những nhóm trung-tâm này
lại có thể có những hình nộm : những con người đeo mặt na ïkỳ
dị, mình trùm một cái khung đan bằng tre le, phủ bông lau, lá
chuối khô, giây leo hay rễ cây tượng trưng cho những “wôm”,
“brâu” (lâm quái, sơn quái, thủy quái, tà ma . . .). Tất cả cứ
nhún nhẩy theo điệu cồng chiêng. Nhưng đêm đó, cuộc vui không
được lâu. Giữa tiếng cười nói, hát ca, trống cồng, bỗng nổ ra
chát chúa mọi thứ tiếng súng lớn nhỏ. Tuy không phải tại đó,
nhưng cũng rất gần. Việt Cộng tấn công Quận Phú Nhơn cách đó
không đầy một cây số!
Anh Thầy Sáu Tín cố gắng lôi kéo
đoàn chiêng của mình tiếp tục chơi để bà con khỏi hốt hoảng.
Nhưng không có ai múa theo nữa! Đoàn chiêng cuối cùng đó đi
không giáp được một vòng, rồi cũng chịu thua. Mọi người đều im
lặng lo âu. Tiếng súng đã át tiếng chiêng. Cuối cùng chỉ còn
tiếng súng. Mấy đóng lửa cũng lụi dần vì không có ai tiếp củi.
Anh Thầy Sáu Tín vẫn chưa nhận định ra tình hình. Vì đã quá quen
nghe những vụ nổ súng ban đêm nên anh cứ tưởng cũng lại đụng độ
ban đêm, đến sáng đâu lại vào đó. Anh lững thững tiến về phía
một đống củi và ngồi xuống một mình. Bỗng chị H'Go' làng
Plei-Kia tới lôi anh về phía đông người hơn đang trùm chăn làm
bộ ngủ (theo kiểu đà điểu vùi đầu xuống cát như người ta nói).
Có mấy người cũng lôi anh Thầy Sáu Tín nằm xuống, bắt trùm chăn
và thì thầm bên tai : “Sum 'ban đih pit be', arang bă bbơi anai
ne!” (Nằm xuống, ngủ đi, “người ta” đầy ra ngay ở đây này!).
“Người ta đầy ra” mà anh Thầy Sáu Tín có thấy ai đâu! Nằm một
hồi bên cạnh anh Quân, anh Mầu cũng được dân làng bắt nằm trùm
chăn, rồi anh cũng ngủ lúc nào không hay. Khi thức giấc thì trời
đã tờ mờ sáng. Tiếng súng cũng êm. Biết mà! đánh đêm thôi, sáng
là rút. Và anh Thầy Sáu Tín lại bắt đầu nói đùa cho vui :
“Abbaih, ta thi pơsat, bbiă-tra thi ta pô ih!” (Chèng ơi, mình
bỏ mả, suýt bỏ mạng hé!). Anh rất lấy làm ngạc nhiên là mình
chọc cười mà chung quanh chẳng có ai cười cả! Anh trông trước
trông sau, bỗng bắt gặp một đôi chân mang đôi dép mà trong vùng
“quốc gia” chẳng có ai mang cả : đôi dép “râu”, đôi dép “Trường
Sơn”, đôi dép làm bằng vỏ và ruột xe! Bạn chỉ cần lấy vỏ xe phế
thải, cắt cho vừa bàn chân, xâu thêm mấy cái lỗ, xỏ vào ba lát
ruột xe cho vừa, thế là bạn đã có đôi dép rất bền, rất tiện,
đường nào cũng đi được. Nhìn từ đôi dép ấy nhìn lên, anh Thầy
Sáu Tín bắt gặp một khẩu súng mà không bao giờ lính “quốc gia”
mang : khẩu B40! Và bây giờ anh Thầy Sáu Tín mới hiểu : “người
ta đầy ra đó”, và cũng hiểu không ai còn muốn đùa dỡn nữa. Từ
lúc đó anh Thầy Sáu Tín cũng êm re luôn!
Khi trời đã sáng hẳn có “lệnh” :
ai về làng nấy. Anh Thầy Sáu Tín rất muốn đi theo mấy người làng
Plei-Djrêk : xa trung-tâm Quận Phú-Nhơn cũng là trung-tâm cuộc
chiến một tí cho nên phía đó ít nghe tiếng súng hơn. Nhưng ở nhà
giữa làng Plei-Kly lại còn Thầy Markô đêm qua không biết ra sao.
Thôi đi về theo người làng Plei-Kly. Nhưng vừa về tới ngõ phía
Tây làng đã gặp mấy anh Bộ Đội đứng phân chia : đàn ông qua bên
phải - đàn bà qua bên trái. Qua ngả bên phải lại có Bộ Đội dẫn
chúng tôi vào vườn chuối nhà Oâng Pho'. Cuối cùng khi không còn
ai tới nữa thì có tất cả trên ba mươi người đàn ông của hai làng
láng giềng Plei-Kly và Plei-Kia ngồi sát nhau thành một đám.
Chung quanh có Bộ Đội cầm súng canh chừng. Một người đeo súng
ngắn lên tiếng : “Ai trong anh em biết tiếng Kinh” ? Không ai
trả lời. Hỏi lần thứ hai, lần thứ ba cũng không ai trả lời. Hỏi
lần thứ tư, không biết tại sao anh Thầy Sáu Tín giơ tay : “Tôi
biết tiếng Kinh”! Người đeo súng ngắn nói : “Tốt! Vậy yêu cầu
anh thông dịch ra tiếng dân-tộc những điều tôi nói đây : 1. Quân
Đội Cách-Mạng đến giải phóng Quận Phú-Nhơn. Không phải đến đánh
rồi đi. Nhưng là đến giải-phóng và ở lại luôn. 2. Xin dân làng
cho phép cắt giây kẽm hàng rào vườn các hộ để lấy lối đi cho Bộ
Đội hành quân, và chặt chuối để làm công-sự. 3- Ai trong anh em
là cảnh sát, lính bảo an, dân-vệ hay cộng-hòa hãy nộp súng cho
cách mạng, sẽ được khoan hồng. Ai ngoan cố sẽ bị trừng trị”. Anh
Thầy Sáu Tín lần lượt nói lại bằng tiếng Jarai. Có nhiều người
trong đám họ hiểu rất rõ tiếng Kinh. Nhưng họ vẫn làm thinh. “Ai
có súng ra trình diện”! Nhắc đi nhắc lại bốn năm lần : Họ vẫn
bất động! – “Cách Mạng đã biết rõ ai trong đám này có súng - hãy
tự nguyện tự giác, sẽ được khoan hồng, bằng không . . .” Người
đeo súng ngắn rút súng ngắn ra, nói tiếp : “. . . sẽ bắn từng
người một”! Vẫn không ai nhúc nhích! Người đeo súng ngắn quay
qua phía anh Thầy Sáu Tín ra lệnh : “Anh hãy chỉ cho tôi ai
trong những người này có sung”! Anh Thầy Sáu Tín ngỡ ngàng.
Không thể chỉ bất cứ ai. Sau này làm sao còn có thể sống với dân
làng với họ hàng của họ. Vả lại anh Thầy Sáu Tín thực sự không
thể khẳng định ai trong đám người ngồi đó có súng? Có thể đã
thấy ai đó mang súng. Nhưng làm ao có thể nói bây giờ, lúc này
người đó còn giữ súng? Một lát sau anh Thầy Sáu Tín nói : “Tôi
không phải là người Jarai. Tôi là người Kinh, là tu-sĩ
Công-Giáo.. Tôi mới tới ở đây được mấy tháng, không quan tâm nên
không biết ai có súng hay không có súng . . .” Người đeo súng
ngắn nói : “Anh không muốn cộng-tác với Cách-Mạng chứ làm gì anh
không biết”! Anh Thầy Sáu Tín chẳng còn biết ăn nói ra sao nữa.
Bầu không khí trở nên nặng nề.
Lúc này Ama Tên (cha của thằng
Tên, lúc đó làm xã-trưởng, và được dân chúng coi như “già làng”)
mới lên tiếng bằng tiếng Jarai : “Tôi xin nói thế này : họ không
chịu để cho mình yên đâu. Tôi đề nghị ai trong chúng ta có súng
đồng loạt giơ tay. Nếu chúng ta không nộp súng, chắc chắn một
người trong chúng ta sẽ phải nằm lại đây, có khi người đó lại
chính là anh Thầy Sáu Tín! Vậy bây giờ tôi đếm một hai ba, ta
giơ tay nghe!” Đa số gật đầu. Thế là nhũng người có súng đồng
loạt giơ tay! Họ được ghi tên và được bộ-đội hay du-kích dẫn đi
lấy súng. Sau đó người mang súng ngắn quay về phía anh Thầy Sáu
Tín hỏi :
“Anh bảo anh là tu-sĩ, sao anh
không mặc áo tu ?
Chúng tôi chỉ mặc áo tu khi cầu
nguyện và dâng lễ trong nhà thờ . . .
Nhà anh ở chỗ nào ?
Ở giữa làng.
Có hầm trú không ? - Có.
Được rồi. Bây giờ anh hãy về nhà.
Đừng đi lung tung, nguy hiểm. Nên trú trong hầm. . .”
Thế là chúng tôi về căn nhà sàn
của chung tôi, vui mừng vì Thấy Thầy Markô, Oâng Năm, cô Chín
còn nguyên vẹn! Chúng tôi kể cho nhau nghe những nỗi lo âu của
chúng tôi trong đem vừa qua. Cha Tài và anh Oánh hôm qua có việc
đi Pleiku. Chúng tôi cũng mừng vì hai người này không có ở đây.
Nhưng chúng tôi cũng biết họ đang rất lo cho chúng tôi. Lúc đó
có Oâng Nhu, một giáo dân, từ thôn Đôn-Hòa, tới hỏi thăm chúng
tôi. Thôn Đôn-Hòa gần sát Quận Phú-Nhơn (đơn thuần là một đồn
bốt lớn). Oâng Nhu kể cho chúng tôi trận đánh ác liệt đêm qua,
những người bị thương, những người chết ở cả hai bên và trong
dân. Oâng nói lúc này không thấy Bộ-Đội chung quanh quận và ở
Đôn-Hòa. “Bây giờ các cha, các thầy Thầy Sáu Tính sao? Nhân lúc
ban ngày yên ắng này, nên chạy qua Đôn-Hoà, tìm cách vào trong
quận, đợi trực thăng bốc về Pleiku?” Chúng tôi khuyên ông nên về
Đôn-Hòa với gia-đình ngay đi. Bộ Đội còn “đầy” ở trong làng này
và các làng chung quanh. Họ nói còn đánh và ở lại lâu dài. Chạy
về phía quận là nguy hiểm : một là vì đó là điểm họ nhắm tấn
công, hai là vì chạy về phía quận là chạy về phía “Mỹ Ngụy”, sau
này rất khó mà trụ lại được ở Plei-Kly. “Vả lại dân làng vẫn còn
đó, chúng tôi ở lại với họ, sống cùng sống, chết cùng chết”. Và
ông Nhu ra về một mình.
Anh em tu sĩ bảo nhau mặc áo
dòng. Và chúng tôi đã mặc áo dòng cả ngày lẫn đêm. Nếu có ai
nghĩ đó là biện pháp an toàn thì sẽ lầm to vì mũi tên hòn đạn,
và cả những con người bắn chúng không hề biết phân biệt như ta
sẽ thấy sau này. Chúng tôi giới hạn ra khỏi nhà. Nhưng không
biết tại sao chiều hôm ấy anh Thầy Sáu Tín lại ở ngoài nhà, giữa
nhà ở và “Nhà Rông”. Anh thấy từ phía Pleiku một chiếc trực
thăng lớn loại Chinook đeo toòng-teng một “gói” lớn dưới bụng.
Nó bay về phía quận. Nhưng tới Plei-Kly liền có nhiều loạt súng
của Bộ-Đội bắn lên. Chiếc trực thăng vội thả gói đồ để chạy
thoát thân. Anh Thầy Sáu Tín thấy gói đồ bay về phía mình. Thay
vì chạy ngược chiều, anh lại chạy xuôi theo gói đồ. Gói đồ ấy
rơi cái rầm xuống cái bể có hòn non bộ ngay trước Nhà Rông, và
cũng ngay trước mặt anh Thầy Sáu Tín. Nước bắn tung tóe! Anh
Thầy Sáu Tín sợ là xăng. Xăng mà bốc cháy thì hỏng hết! Nhưng
may quá đó chỉ là nước từ hồ hắt vào anh. Anh chẳng còn muốn xem
cái gói đồ kếch xù ấy là thứ gì, chỉ vội vàng chạy vào trong nhà!
Nhưng chỉ một vài phút sau đã có
một tiểu đội bộ-đội đến kiểm tra cái gói đó. Nghe họ nói thì cái
bọc đó gồm toàn là đạn, một loại đạn lớn của xe tăng. Họ không
đụng tới cái bọc đó. Trước khi họ rút đi, họ đến bên cái xe Jeep
loại phế thải mà chúng tôi đã mua lại với giá rẻ để dùng. Họ ném
bộc phá vào ổ máy. Chiếc xe bốc cháy. Họ còn dắt cái xe Honda
của chúng tôi, cho dựa vào chiếc xe Jeep, rồi bỏ đi. Chắc họ
không muốn có ai dùng những chiếc xe đó để chở cái bọc đạn kia
cho Mỹ. Thật là của nợ, rơi đâu không rơi, lại rơi đúng vào nhà
chúng tôi!
Đêm xuống. Lại đánh nhau. Súng
lớn, súng nhỏ chát chúa, hỏa châu chập chờn, trực thăng gào
thét, lồng lộn và khạc đạn . . . Đạn nhỏ rít, đạn lớn rú trên
đầu chúng tôi, không biết nó bay đi đâu, nó rơi chỗ nào. Chúng
tôi xuống chen chúc ngồi bó gối trong căn hầm chặt chội. Nắp hầm
ngay trên sàn nhà : chỉ lật mấy tấm ván là nhào xuống hầm. Từ
sàn nhà tới mặt đất chất hai ba lớp bao cát chung quanh miệng
hố. Từ mặt đất đào xuống độ 1m50 nữa. Chúng tôi sáu người chen
chúc nhau trong một diện tích khoảng 1m x 1m50 đó. Thỉnh thoảng
lại có những toán bộ-đội chạy qua, chạy lại. Hai ba lần có người
nói : “Thủ-trưởng, có hầm! B40 nhá?” Mỗi lần như vậy, tim chúng
tôi lại thót lại! Chờ đợi. . . Nhưng rồi, không thấy gì. Thật là
hồi hộp. Chắc thủ-trưởng của họ bảo thôi : trong làng dân-tộc
mà! Nhưng tới nửa đêm thì có hai chiếc trực thăng (dĩ nhiên là
của Mỹ) hình như không hề biết đây là làng dân-tộc! Hay nó biết,
nhưng nó cũng biết trong làng có VC nên nó bắt đầu xả rockets
xuống làng. Bắt đầu từ dẫy nhà từ ngoài đường cái trước. Mỗi
vòng là những loạt rockets lại nổ như sấm sét gần chúng tôi hơn.
Chúng tôi phó thác linh hồn trong tay Chúa! Rồi tới dẫy có căn
“Nhà Rông” (Nhà Nguyện) của chúng tôi. Nó nổ tung trong ánh chớp
lòa. Đất rung lên. Chúng tôi đinh tai nhức óc. Ván, tôn, đất cát
văng lên, hắt tung tóe vào nhà chúng tôi đang trú ẩn. Căn Nhà
Rông đó chỉ cách chỗ chúng tôi khoảng 4m. Chúng tôi còn sống và
không ai hề hấn gì. Nhưng chúng tôi đợi loạt rockets tiếp theo!
Và lần này nữa thì chúng tôi biết chúng tôi sẽ tan tành như căn
Nhà Rông! Hai chiếc trực thăng lượn lại một vòng . . . không
bắn! Chúng lượn lại một vòng nữa . . . cũng không bắn! Sau đó
chúng bay đi về hướng Pleiku. Chúng tôi thở phào. Sau đó mọi sự
trở lại im lặng khác thường. Chỉ còn tiếng gió rít trên mái Nhà
Rông toang hoác làm cho những tấm tôn còn dính trên đó đập phành
phành từng hồi nghe thê thảm! Chúng tôi vẫn còn ngồi trong hầm
một hồi lâu, mình phủ đầy bụi đất. Sau đó, cuộc chiến như lắng
xuống. Chỉ còn lác đác vài tiếng súng từ phía quận. Thường là
như thế : những cuộc tàn sát chỉ diễn ra ban đêm. Chúng tôi leo
lên sàn nhà, ai nấy tìm một chỗ để ngủ. Tất cả chúng tôi rất
buồn ngủ. . .
. . . Có lẽ là tới sau trưa,
bỗng chúng tôi nghe một giọng đanh thép ra lệnh : “Tất cả những
người trong nhà ra ngoài ngay”! Ra ngoài, chúng tôi thấy một
tiểu đội bộ-đội chĩa súng vào chúng tôi. Họ ra lệnh cho chúng
tôi từ trên nhà sàn xuống đất. Một người trong bọn họ nói :
“Các anh có máy điện đài gọi địch bắn pháo vào dân làng!” Chúng
tôi nói chúng tôi không có loại máy nào như vậy cả. Họ nói :
“Nếu lục soát thấy, các anh sẽ phải đền tội!” Và một số họ vào
nhà lục soát. Một lúc sau họ tìm được một cái “radio” (mà phía
Bắc gọi là cái “đài”) và hai cái “cassettes” thời 60-70 chúng
tôi mua để thu băng học tiếng Jarai, nhưng họ nói : “Đây là máy
các anh dùng để gọi pháo địch bắn vào làng!” Họ nhất định coi
mấy cái “micro” của máy “cassette” là những bộ phận để liên lạc
với “địch”. Chúng tôi giải thích mấy họ cũng không chịu. Sau
cùng họ chỉ vào Thầy Marcô : “Tên già ra đền tội”! Họ làm như
bắn Thầy tới nơi! Nhưng lúc đó không biết từ đâu, đạn trọng pháo
bắn tới. Tiếng hú và tiếng nổ rất gần chúng tôi. Đất hắt cả lên
người chúng tôi. Có người bộ-đội nói : “Thủ-trưởng, ta đi thôi,
ở đây không tiện!” Thế là tất cả bọn họ rút lui, mang theo radio
và cassettes, và cả mấy thùng bánh mì khô của chúng tôi nữa. Chỉ
còn lại anh em chúng tôi. Lúc đó Thầy Lêonard Q. hô : “Chạy”! Và
với cả áo dòng, Thầy chạy biến luôn. Còn lại Thầy Marcô, Thầy
Sáu Tín, Mầu, Oâng Năm, cô Chín bảo nhau đi về phía Plei-Djrêk
tránh xa Quận là điểm giao-tranh. Nhưng mới đi tới rìa phía Đông
làng Plei-Kly đã bị một tổ ba bộ-đội canh giữ ở đó vẫy lại hỏi
“Đi đâu?” Chúng tôi nói ý định của chúng tôi. Họ kéo chúng tôi
vào căn hầm của họ và bảo : “Để đi hỏi ý kiến thủ trưởng đã”.
Một lúc sau, người đi liên lạc trở về và nói : “Yêu cầu các anh
đi gặp thủ-trưởng”. Và anh ta dẫn chúng tôi trở lại vườn chuối
của Oâng Pho' ở rìa phía Tây làng, nơi chúng tôi đã gặp bộ-đội
ngày đầu tiên. Vừa tới nơi là họ trói giật cánh tay chúng tôi
lại và nói : “Các anh gọi địch bắn vào dân làng, vào bộ-đội, bây
giờ định chạy trốn hả?” Họ lại đưa mấy cái “cassettes” ra. Lại
giải thích một cách vô vọng. Chúng tôi bị trói như thế suốt cả
buổi chiều. Nhưng chúng tôi không thấy hoàn toàn thất vọng, vì
có lúc người cứ tạm gọi là thủ-trưởng lại nói với mấy chú bộ-đội
: “Nếu có pháo hay máy bay địch tấn công, các đồng chí cho mấy
người này trú vào hầm nghe”. Và vào khoảng bốn, năm giờ chiều họ
cởi trói cho chúng tôi, và cho chúng tôi mỗi người ăn một khúc
bánh tét. Khi trời đã tối hẳn bỗng có tiếng cảnh báo vừa đủ
nghe, nhưng rõ ràng, dứt khoát: “Báo động! Xe tăng! B40 sẵn
sàng!” Chúng tôi nghe có tiếng xe tăng rù rù ngoài đường cái.
Hình như nó muốn bò vào làng Pli-Kly. Lúc đó họ lại trói tay
chúng tôi ra sau lưng. Người chỉ huy rút súng ngắn cầm lăm le
nơi tay. Tiếng xe tăng gần hơn. Ba loạt “aka” đanh thép vang
lên, mỗi loạt ba viên thôi. Hình như đó là hiệu lệnh sẵn sàng.
Anh Mầu ghé vào tai anh Thầy Sáu Tín nói nhỏ : “Nếu xe tăng tấn
công, họ sẽ bắn tụi mình trước khi rút lui. Nếu họ bắn mà mình
bị thương thì cũng giả đò chết nghe!” Anh Thầy Sáu Tín mau mắn
gật đầu. Nhưng sau đó nghĩ lại : Bị trói giật cánh khuỷu, người
cầm súng ngắn kia kê nòng súng vào thái dương của mình mà lảy
cò, thì hỏi rằng còn bị thương ở chỗ nào được cơ chứ! Lại một
lần nữa xin phó thác linh-hồn trong tay Chúa!
Hình như cảm thấy nguy hiểm,
chiếc xe tăng rút lui. Hay nó chỉ dò đường? Người chỉ huy nhét
súng ngắn vào bao. Chúng tôi vẫn bị trói. Dẫu sao chúng tôi cũng
nhẹ nhõm hơn : điều anh Mầu nói chưa tới. Chúng tôi ngủ gà ngủ
gật cho đến khoảng gần nửa đêm, người ta đến nói : “Bây giờ
chúng tôi đưa các anh đi khỏi đây, tới chỗ an-toàn hơn”. Họ
choàng vào cổ anh Thầy Sáu Tín, anh Mầu, mỗi anh một khẩu “aka”.
Họ không lo ngại gì, vì tay chúng tôi bị trói rất kỹ ra đằng sau
lưng. Dù sao chúng tôi cũng biết được là hai khẩu súng này không
có chủ. Chúng tôi thấy hai bộ-đội khiêng võng xác một đồng đội
quấn kín trong vải. Chắc còn một người nữa họ đã đưa đi rồi.
Chúng tôi thinh lặng lần đi
trong đêm tối. Đằng trước một vài người du-kích dân-tộc dẫn
đường. Chỉ có họ mới biết con đường an-toàn và chính xác. Đằng
sau chúng tôi là vài anh bộ-đội. Họ là người miền Bắc và miền
xuôi, không thể rành đường rừng bằng du-kích dân-tộc. Dần dần
chúng tôi nghe tiếng súng ở lại phía sau lưng chúng tôi. Như vậy
là chúng tôi đang đi về phía Tây Pleikly - Phú-Nhơn. Có lúc
chúng tôi lại nghe tiếng súng xa xa phía tay trái chúng tôi. Như
vậy là chúng tôi đang đi chếch theo hướng Tây-Nam. Chúng tôi
phải lội qua một con suối, chắc đây là suối Ia-Hlôp, con suối
lớn đầu tiên cách Pleikly chừng 5km. Mọi người làm theo bộ-đội
và du-kích cởi dép cầm ở tay. Riêng anh Thầy Sáu Tín không chịu
cởi dép nên tới chỗ nước sâu hơn đầu gối, bị nước cuốn đi một
chiếc. Sau đó anh mới thấy chân có đi dép với chân không đi dép
nó khác nhau thế nào nhất là ở chỗ đất sỏi đá. Cứ đi 50 phút
thì được nghỉ 10 phút. Mấy đêm mất ngủ, bây giờ chúng rất buồn
ngủ. Khi được lệnh dừng chân nghỉ, ngồi xuống là chúng tôi ngủ
liền. Gần sáng thì chúng tôi tới điểm tập kết. Đó là một con
suối cạn, một căn hầm lộ thiên lý tưởng của tự nhiên, sâu tầm
ngực, có chỗ sâu hơn, cũng quanh co qua lại, có tre le, cây cao
bóng cả từ hai bên bờ bao phủ. Tại đây đã có nhiều người tới
trước chúng tôi. Đa số là “tù binh người” dân-tộc. Trong bọn họ
đa số có lẽ chỉ là “tình nghi” hay “lỡ” gặp Quân Giải Phóng mà
bị giữ lại để bảo toàn cuộc hành quân. Chúng tôi nhận ra mấy
người dân làng Plei-Kly và làng khác nữa. Tù binh thực thụ có lẽ
chỉ có Nay-Ju' Phó-Quận-Trưởng Phú'Nhơn, hai người lính xe tăng,
một phi-công (do máy bay bị bắn hạ). Mấy người này mau chóng bị
đem vào sâu hơn về phía Tây(phía biên giới Cambod). Cũng tại nơi
đây, chúng tôi gặp lại ông Năm, người nấu bếp cho chúng tôi. Từ
lúc chúng tôi bị bắt, chúng tôi không thấy ông nữa, chúng tôi
nghĩ là ông đã chạy trốn. Đúng là ông đã chạy trốn nhưng không
thoát. Oâng đã bị bắt và dẫn đến chỗ này trước chúng tôi. Tội
nghiệp, ông đã già, lại có bệnh run tay run chân. Gặp chúng tôi,
ông chỉ than phiền là khi lội qua con suối, nước cuốn trôi mất
của ông một chiếc dép, bây giờ đi đau chân quá! Anh Thầy Sáu Tín
biếu luôn cho ông chiếc dép còn lại của mình vì anh nghĩ anh
quen đi chân không rồi. Sau đó ông Năm không còn được gặp lại
chúng tôi nữa. Oâng đã được thả về lúc nào chúng tôi cũng không
được rõ. Người ta giữ ông tới lúc này, chắc cũng để khai thác
xem ông có thể cung cấp những điều gì đó liên quan đến chúng tôi.
Tại con suối cạn này chúng tôi
trải qua mỗi người một cuộc thẩm vấn riêng lẻ : Tên? Tuổi? Nghề
nghiệp? . . . Bị bắt vì tội gì? Khi chúng tôi nói chúng tôi
không có tội thì được trả lời : Đã bị bắt thì nhất định phải có
tội, phải thành khẩn khai tội. Tại đây lần đầu tiên chúng tôi
làm quen với việc khai “ly-lịch”, một từ chúng tôi chưa hề nghe
tới. Phải khai ra “tiểu sử” và những mối quan hệ của mình từ hồi
nhỏ. Công việc này chúng tôi phải lập lại rất nhiều lần, không
những trong những ngày tháng bị bắt giữ mà cả những năm tháng
sau ngày “giải phóng”. Đây là chế độ lý-lịch. Người ta dựa trên
lý-lịch mà phân loại bạn : ngụy quân, ngụy quyền, tôn-giáo,
dân-tộc, tư-bản, tư-sản, có nợ máu hay không có nợ máu, giầu hay
nghèo, bần nông hay phú nông, trí thức hay công-nhân, có công
hay có tội với Cách-Mạng . . . v.v và v.v. . . Mỗi loại lại còn
phân ra nhiều thành phần. Và người ta cứ dựa vào loại và
thành-phần mà đối xử với bạn : được đi học hay không được đi học,
được làm công-nhân viên-chức hay không được làm công-nhân
viên-chức, được dạy học hay không được dạy học . . . Thầy Sáu
Tính cách khắc nghiệt của việc phân biệt đối xử theo lý-lịch với
năm tháng có giảm, nhưng đó là vì tình thế bắt buộc chứ không có
thay đổi theo não-trạng hay nguyên-tắc. Đến thời điểm cuối năm
2002, số phận của các giáo-viên Công-Giáo hay Tin-Lành là rất
bấp-bênh, chắc chắn là họ không được tham-gia hướng-dẫn các lớp
giáo-lý trong các giáo-xứ chẳng hạn. Tuyệt đại đa số những người
tham gia chế-độ cũ hay thuộc thành phần tôn-giáo (trừ khi họ
không khai ra trong lý-lịch) không bao giờ được giữ một chức vụ
gì ở bất cứ cơ-quan ban ngành nào. Ưu tiên số một vẫn dành cho
đảng-viên, bất chấp trình-độ.
ĐI BƯNG HỌC TẬP
CẢI TẠO
ua một buổi sáng và một buổi
chiều. Đêm về, chúng tôi ngủ như chết. Gần sáng nghe xôn xao:
trong đêm có một người bỏ trốn. Đó là một người Bahnar thuộc
làng Plei-Kly. Du-kích, bộ-đội, cán-bộ tỏ vẻ tức giận ra mặt.
Sau đó mọi người được lệnh chia thành những nhóm nhỏ và sẵn sàng
lên đường! Bao giờ cũng vậy, khi có nguy cơ bị lộ là di chuyển.
Không biết đi về đâu?! Riêng nhóm chúng tôi gồm Thầy Marcô, Cha
Mầu, anh Thầy Sáu Tín, cô Chín và Oâng Cự (một chủ xưởng cưa ở
Phú-Nhơn) cùng với anh Tư và hai người nữa đều là công nhân của
ông Cự ; những người này bị bắt giữa rừng vì lỡ gặp bộ-đội trên
đường hành quân, cũng có thể để khai thác thêm thông-tin. Chúng
tôi vẫn cứ dò hỏi xem chúng tôi sẽ bị đưa đi đâu? Phía cán bộ
người Kinh, không ai trả lời cho chúng tôi cả. Chỉ có một anh
du-kích Jarai cho biết: “Nao hrăm” - đi học. Đi học ? Thế thì
tốt quá! Có dịp đi học Chủ-Nghĩa Xã-Hội, Chủ-Nghĩa Cộng-Sản do
chính nhưng người cộng-sản hướng dẫn, còn gì bằng! Trước lúc lên
đường, riêng phía tu-sĩ chúng tôi nhận được thêm một mảnh giấy :
“Tạm giữ để bảo-vệ an-ninh cho Bộ-Đội Mặt Trận Giải Phóng đường
14”. Tạm giữ ? Như vậy là có ngày được tha! Chỉ là tạm giữ để đi
học! Nói theo kiểu XHCN : Phấn khởi quá ! Sau này chúng tôi mới
hiểu : học đây là “học tập cải tạo” ! Miền Nam thường gọi là đi
tù. Nhưng trong XHCN không có nhà tù, chỉ có học tập cải tạo
thôi! Sau này, hết tháng ba rồi qua tháng tư, hết tháng tư qua
tháng năm mà cũng chẳng thấy được “học” lớp nào cả, hỏi anh
cán-bộ coi trại cải-tạo (anh Hưởng) thì được anh giải-thích :
lao-động là học đấy, lao-động là cải-tạo, cứ lao-động đi là học
tập cải tạo rồi đấy! Nghe thấy cũng có lý!
Đến lượt nhóm chúng tôi xuất
phát. Nhóm chúng tôi gồm tám tù nhân như trên đã nói. Có ba chú
du-kích Jarai dẫn đường và canh chừng. Dĩ nhiên là chúng tôi
bước đi trong tư thế bị trói, vừa khổ vừa nhục. Nhưng làm sao họ
có thể tin tưởng cho chân tay chúng tôi thong dong được? Chúng
tôi đi suốt ngày như thế băng qua những cánh rừng lúc rậm lúc
thưa của Tây-Nguyên. Chân bước lúc trên đất, lúc trên sỏi đá,
lúc trên những mũi nhọn cỏ “chông”. Tháng ba mùa khô Tây-Nguyên,
mọi cái đều khô cháy, mọi thứ cỏ đều trở thành chông gai: phần
thân ngọn bị lửa thiêu, chỉ còn trơ cái gốc tua tủa như bàn
chông. Anh Thầy Sáu Tín đi chân trần (chiếc dép còn lại sau khi
vượt suối đã cho ông Năm rồi)! Đi được một nửa ngày trong cái
nắng như thiêu như đốt, bàn chân rát bỏng không sao đi được nữa!
May quá còn cái đai lưng áo dòng. Anh lấy đai lưng áo dòng của
anh, mượn thêm đai lưng áo dòng của cha Mầu, tìm vài sợi giây
leo nhỏ mà chắc, cột thành đôi dép êm ái vô cùng trong lúc đó!
Cám ơn Thánh An-Phong “thiết kế” cái kiểu áo dòng như thế: ngày
xưa kiểu áo này cưỡi ngựa thoải mái, ngày nay ban ngày làm áo,
ban đêm làm chăn, đai lưng làm dép được nữa! “Dép đai áo dòng
nâng niu bàn chân . . . tù-sĩ”! Đi trong mùa khô Tây Nguyên còn
có nạn khát nước. Mười một người chỉ trông vào có ba bi-đông
nước của ba anh du-kích! Rất hạn chế và cũng rất là ngại không
dám xin! Nhưng khi đến một điểm có nước hay gặp một con suối,
thứ nhất phải qua suối đã, thứ hai phải chờ năm phút cho bớt
mệt, ráo mồ hôi, thứ ba cởi trói, mới được uống nước. Vẫn biết
như thế là khôn ngoan, nhưng năm phút ấy cũng vẫn dài như vô
tận. Vẫn kiểu đi 50 phút nghỉ 10 phút. Không cởi trói. Đến trưa
các anh du-kích phân phát cho mỗi người một nắm cơm vắt và một
ít muối. Đó là tiêu chuẩn chung. Mấy anh du-kích Jarai còn có
tiêu chuẩn riêng, nói theo ngôn-ngữ XHCN, do họ “cải thiện”. Đó
là thịt nai khô. Họ cũng chia cho chúng tôi. Nhẩn nha nhai miếng
cơm, đệm thêm miếng thịt khô nướng, chêm thêm hạt muối: thật là
“đậm đà khó quên” - khó quên cả những con người chia sẻ cho
chúng tôi những miếng khi đói đó, thật là bằng mấy gói khi no.
Nói thế chứ, Thầy Marcô vẫn nuốt không trôi. Thầy chưa bao giờ
đi những quãng đường dài như thế, lại đi trong đói khát, đi dưới
mặt trời đổ lửa. Dẫu sao thì chúng mới ba mươi và dưới ba mươi
tuổi. Còn thầy đã quá năm mươi, lại không phải thể thao,
lao-động như tụi tôi. Chính vì yếu sức khoẻ mà hồi trẻ thầy
không tiếp tục học lên cao được. Có điều thầy không một chút kêu
ca. May mà hôm đó chúng tôi chỉ phải đi có một ngày. Chiều đến,
chúng tôi tới trạm thứ nhất. Ở đây thấy có hai ba anh bộ đội
người Bắc và ba bốn du-kích Jarai. Ba anh du-kích đưa chúng tôi
tới đây, ngày hôm sau chúng tôi không gặp lại họ nữa. Có lẽ phạm
vi hoạt động của họ là tới chỗ này thôi. Nhóm bộ-đội và du-kích
ở một chỗ trống, cây cối tự nhiên. Còn có hai chỗ khác vây kín
bốn mặt bằng cây rừng to bằng bắp đùi, cao ba thước, chôn chặt
sâu xuống đất, sát với nhau. Có thể tạm gọi đó là những cái
“chuồng”. Một cái thấy nhốt tù Jarai. Cái còn lại nhốt nhóm
chúng tôi. Mỗi cái “chuồng” như thế ngang rộng khoảng hai thước,
dài khoảng bốn thước, lộ thiên. Vào trong “chuồng” rồi, chúng
tôi được cởi trói. Tiếng Jarai gọi mấy cái chuồng như thế là
“war”. Khi họ được thả về hay trốn về, họ đã cho Cha Tài biết là
có gặp chúng bị nhốt trong “war”. Cha Tài lại hiểu rằng chúng
tôi bị nhốt trong “cũi”, nên càng đau xót cho chúng tôi hơn.
“War” cũng có nghĩa là cũi, là chuồng, mà cũng có nghĩa là “hàng
rào”.
Nghỉ một lúc, người ta cho chúng
tôi đi cắt cỏ để trải nằm cho sạch hơn, êm hơn, ít trực tiếp với
đất hơn. Họ cho chúng tôi tạm mượn mấy con dao hay lưỡi lê để
cắt cỏ. Khi đi cắt cỏ, chúng tôi thấy chúng tôi ở gần một cái
đìa khá rộng. Chúng tôi xin và được phép tắm. Thật là thoải mái.
Thầy Marcô và cô Chín không tắm, chỉ rửa mặt và chân tay. Khi
tắm, chúng tôi thấy trong đìa có rất nhiều cá, nhất là cá lóc.
Chúng tôi nói với mấy anh du-kích canh gác chúng tôi : tại sao
không câu cá mà ăn? Họ bảo không có lưỡi câu. Chúng tôi bảo lấy
kim băng mà uốn thành lưỡi câu. Có lẽ họ đã làm theo chúng tôi,
vì hôm sau chúng tôi được ăn cháo cá lóc tươi. Chung quanh đìa
chúng tôi thấy dầy đặc những dấu chân thú rừng : hươu nai, mang,
hoẵng, heo, thỏ, hùm beo . . . Vì có hơi người nhiều nên bốn đêm
chúng tôi ở tại đó, không thấy con thú nào bén mảng tới. Chúng
tôi phải ở chỗ đó bốn đêm ba ngày vì mấy anh bộ đội đi lấy gạo ở
một nơi nào đó bị lạc đường. Cả ngày thứ ba chúng tôi phải ăn
cháo loãng, mỗi người chỉ có một bát. Cũng may là tối mịt hôm đó
họ về được tới nơi. Và ngay sáng hôm sau, chúng tôi đươcï lệnh
lên đường đi tiếp. Trước khi lên đường có một chi tiết cần kể
lại : anh bộ-đội người kinh trả lại cho Cha Mầu cây bút bi mà
một anh du-kích Jarai hỏi xin hôm trước. Anh bộ-đội hỏi cặn kẽ
có phải anh du-kích kia đã tước đoạt của cha Mầu không. Cha Mầu
trả lời : Không, anh ấy thích và ngỏ ý xin thì tôi cho. – “Không
được, cho không lấy, thấy không xin”. Đó là nét đẹp của bộ-đội .
. . cho đến ngày đất nước hoàn toàn “giải phóng”, thì cái nét
đẹp ấy cũng bị “giải phóng” luôn.
Khi lên đường, chúng tôi lại bị
trói tay ra đằng sau! Lần này thì phải đi ba ngày liền. Đêm
nghỉ. Không thoải mái chút nào. Và vì muốn thoải mái nên đêm đầu
tiên suýt nữa Cha Mầu bị bắn. Đêm nằm đất, nằm bụi, mà hai tay
vẫn bị trói ra đằng sau (trói ở khuỷu tay và ở cổ tay) thì rất
khó chịu, ê ẩm, tê buốt . . . Đi mệt cả ngày, đêm lại không ngủ
được! Cha Mầu vốn là một tay hướng-đạo, nút hay gút gì cũng
thuộc. Lại tưởng rằng ban đêm người ta không đi kiểm tra. Và có
ý ngay lành là ban đêm cần được ngủ thoải mái, lấy sức ngày mai
đi tiếp. Vì thế cho nên, táy máy, lần mò, gỡ hết giây trói và
ngủ giấc ngủ của người công-chính! Nửa đêm, một anh du-kích
Jarai rọi đèn pin đi kiểm tra từng người. Tới chỗ Cha Mầu, anh
ta lẩm bẩm : “Quái hồi tối mình đã kiểm tra cột chặt, mà sao giờ
bung ra hết thế này?!” Cha Mầu chắc cũng biết tình hình rồi,
nhưng vẫn giả đò ngủ say. Anh du-kích đá cho Cha Mầu một cái hỏi
tại sao mà lại cởi trói ra hết vậy, bộ muốn trốn hả? Cha Mầu
giọng ngái ngủ trả lòi bằng tiếng Jarai : “Tôi không biết, tôi
có biết đường nào mà trốn . . . Có lẽ ban đêm tôi cựa quậy sao
đó mà nó tuột ra đó . . .” Anh du-kích nói : “Vô lý, làm sao mà
tuột được! Mày có ý trốn, tao bắn bỏ!” Đó không phải là lời đe
dọa suông, vì sau này chính mấy cán-bộ người kinh cho biết :
“Các anh sống được là may vì các anh có thể chết vì bệnh, vì đạn
của địch, hay vì mấy ông du-kích dân-tộc. Họ nói bắn là bắn. Có
khi họ ngại đường xa mệt nhọc lại nguy hiểm, nên khi phải giải
tù binh, họ bắn bỏ, rồi về báo cáo tù binh chạy trốn”. Đúng là
may, đêm hôm đó, Cha Mầu không bị bắn bỏ! Rất có thể vì ông ấy
nói tiếng Jarai, vì cái tiếng Kinh trong lỗ tai người Jarai
thường là không dễ thương chút nào! Đơn giản là cứ không hiểu
nhau là đã khó thương nhau rồi.
Đến chiều ngày thứ hai của cuộc
hành-trình, khi ăn bữa tối, Thầy Marcô không chịu ăn nữa. Nói
mấy, Thầy cũng không ăn. Cơm nóng. Nhưng chỉ ăn với muối. Mỗi
người một bát đổ ra lá vì chúng tôi không có bát. Chỉ có mấy chú
du-kích có bát. Thầy đã quá mệt, khô cổ không nuốt nổi. Mấy chú
du-kích Jarai cũng thúc dục Thầy : “Aên đi! Không ăn là chết đó!”
Thầy vẵn lắc đầu. Có lẽ đã lâu lắm Thầy không đi bộ hai ngày
liền giữa nắng nóng như mùa khô Tây-Nguyên. Trong suốt cuộc
hành-trình, hầu như Thầy không nói, chỉ cố gắng đi cho kịp mọi
người.
TRONG CÙM
ến chiều ngày thứ ba, chúng tôi
đi vào những khu rừng rậm rạp và có dân : đàn ông, đàn bà, trẻ
em Jarai. Nhà của họ vẫn là nhà sàn nhỏ bé, núp dưới những lùm
cây dầy đặc. Thấy những phụ-nữ và trẻ em, không mang súng, tự
nhiên thấy thanh-bình, lòng người muốn ở lại. Nhưng chúng tôi
không được ở lại, cũng không được nói với họ nữa. Gần tối, chúng
tôi tới nơi chúng tôi phải tới : ba túp nhà tranh dưới vòm le
cao dầy bên cạnh con suối cạn - một nơi ẩn núp tự nhiên. Sau khi
làm thủ-tục ghi tên tuổi . . . người ta đưa chúng tôi vào trong
nhà, cởi trói, nhưng lại cùm chân chúng tôi lại! Cùm là hai
thanh gỗ dài đẽo dẹp, dầy chừng 10cmx20cm mỗi thanh. Ở mỗi thanh
lại có đục những nửa vòng tròn vừa cổ chân. Khi tù nhân đã đặt
cổ chân vào thanh gỗ dưới, cố định, người ta khép thanh gỗ phía
trên xuống, cũng có những nửa vòng tròn, chốt hai đầu : thế là
hai chân tù nhân bị cùm lại, hết cựa quậy, chỉ ngồi lên hay ngả
lưng trên một dàn tre le. Bữa tối đó có thay đổi. Vẫn mỗi người
một bát cơm ăn với muối hột, nhưng là cơm độn củ sắn mì. Chúng
tôi gặp lại anh Nay Ju', phó quận trưởng bị bắt ngay đêm lễ hội
nhà mồ. Anh trúng đạn bị thương ở bàn tay trái. Anh chia cho
chúng tôi ít lá mì luộc. Thầy Marcô vẫn không ăn. Chúng tôi xin
người ta lấy phần cơm của Thầy nấu thành cháo, Thầy cũng không
nuốt được. Giọng Thầy thều thào. Mệt vì đường xa, anh em rơi
nhanh vào giấc ngủ. Quên Thầy Marcô. Mặc dù hai chân bị cùm. Thì
cũng như những đêm trước ngủ trói!
Sáng hôm sau thức dậy, thấy Thầy
Marcô vẫn còn sống! Trong ngày Thầy đã nhấm nháp vài hạt cơm.
Chúng tôi được ăn hai bữa một ngày. Vẫn là một bát cơm đầy trộn
củ mì ăn với muối hột. Mỗi người nhận được phần muối của mình :
mỗi người một tháng một lon muối hột. Đối với chúng tôi như vậy
là dư. Nhưng đối với anh em Jarai lại là thiếu. Sau này chúng
tôi quan sát thấy anh em Jarai không những ăn mặn hơn chúng tôi,
mà họ còn ăn nhiều hơn chúng tôi. Mỗi khi rảnh rỗi họ đều có cái
để ăn. Nhờ họ mà chúng tôi biết trong rừng có tới 12 thứ rau ăn
được. Họ lại có tài làm bẫy. Mỗi khúc cây khô, mỗi tấm đá phẳng
đều có thể biến thành bẫy bắt chuột hay sóc, thậm chí cả thỏ, cả
chồn. Họ nâng khúc cây hay tấm đá lên, cài đặt thế nào đó, gài
một miếng mồi (vài hạt gạo, vài hạt bắp, vài miếng củ mì nhỏ,
một con dế hay một con cào cào châu chấu . . .). Thế nào cũng có
một con chuột, một con sóc . . . chui vào sập bẫy (bị cây gỗ
hay phiến đá đè bẹp dí!) Thế là họ làm mắm hay làm khô để ăn
dần. Mắm đây là mắm “bồ hóc” (tiếng Jarai gọi là “anham phok”).
Bây giờ thì tôi hiểu tại sao thứ mắm này lại có mùi hôi thối đến
thế: thiếu muối. Từ xưa người Tây Nguyên đã thiếu muối. Muối
theo tiêu chuẩn tù cũng không đủ. Cho nên “anham phok” vẫn hôi
thối kinh khủng. Ấy thế mà anh Mầu vẫn xin anh em chia cho thứ
mắm ấy để nêm nếm với món lá mì hay món lá gì đó lượm được sau
này. Thật là “đậm đà khó quên”! Tuy nhiên Thầy Marcô thì không
tài nào thưởng thức nổi cái món “anham phok” đó. Có một món khác
đặc sản Tây Nguyên mà Thầy Marcô chưa quen. Đó là món lòng của
các con vật ăn lá hay ăn cỏ. Không chỉ đơn thuần là lòng ruột mà
còn là những “chất” ở trong lòng ruột. Anh em Jarai gọi thẳng là
“eh” (phân).
Số là những người canh tù (du
kích hay bộ đội) họ có súng. Khi dẫn tù đi lao động hay khi băng
rừng, thỉnh thoảng họ cũng bắn được khi thì heo rừng, khi thì bò
rừng, khi thì vượn. Vượn bắn được nhiều hơn. Theo phong tục Tây
Nguyên từ ngàn xưa thì những thứ săn được phải chia ít nhiều cho
mọi người. Ăn một mình áy náy và mang tiếng lắm. Thế là tụi tôi
bị cùm ở nhà vẫn được chia. Anh em Jarai hỏi tụi tôi: “Gih bbong
eh nhu mơh?” (các anh có ăn phân nó không?). Anh Mầu nhanh nhẩu
trả lời liền: “Bbong mơn” (ăn chứ). Thế là họ trộn các chất lỏng
trong ruột non, thứ nước vắt được trong dạ dầy của con vượn, vào
với xương thịt, làm thành một món hổ lốn loạn xà ngầu với mùi vị
“đặc biệt” của lòng với ruột. Thầy Sáu Tín và Mầu thì hồ hởi
phấn khởi lắm. Nhưng nhìn lại Thầy Marcô và Cô Chín thì không
đụng đũa! Tội nghiệp, lâu lâu mới có thịt sống mà lại ăn không
được! Những lần sau, chúng tôi phải “còm-măng” xin để món lòng
ruột riêng ra (cho Thầy Sáu Tín Mầu thưởng thức), xương thịt
riêng ra (cho Thầy Marcô và cô Chín có thể ăn được). Trong
trường hợp này chúng tôi phải tự nấu lấy. Người ta cũng hay cho
chúng tôi một bàn tay của con vượn vì bàn tay có nhiều gân,
xương, da lại dai, khó làm nên ít người muốn nhận. Vả lại nó rất
giống bàn tay người. Nên nếu cứ phải loay hoay mân mê mãi cái
bàn tay ấy, tới lúc nào đó cũng thấy ớn.
Cuối tháng tư có những cơn mưa
đầu mùa. Đó dịp đi bắt ếch nhái. Những người tù lâu năm không bị
cùm ban ngày được theo du kích đi bắt ếch. Chúng tôi bị cùm ở
nhà vẫn được ăn theo. Qua tháng năm sẽ có dịp đi hái nấm mối mọc
rất nhiều trong rừng. Nhưng nấm mối chỉ mọc vào một thời điểm
nào đó thôi. Khi đã mọc thì chỉ sau một ngày là nó thối. Ngoài
nấm mối còn có nhiều thứ nấm khác ăn cũng rất ngon. Nhưng không
nên hái nấm rừng nếu không biết rõ đó là nấm gì. Có lần Trần Sí
Thầy Sáu Tín khi lượm về một mớ nấm nâu nâu nho nhỏ, cứ tưởng là
loại nấm mà người Jarai gọi là “tơmâo phok”. Vì ham tìm nấm nên
vắng mặt hơi lâu, vừa về là bị cán bộ kêu lên hỏi. Bỏ nấm đó lên
trả lời chất vấn. Có mấy anh em tù nhân Kinh lấy nấm ấy ăn, thế
là bị say mửa mất xanh mật vàng luôn. May mà không chết!
TRẠI CẢI TẠO
hành phần trại bên người Kinh
gồm bốn người Công-Giáo chúng tôi, bốn người thợ rừng, hai người
lính thiết giáp, có hai cậu trai khoảng 15-16 tuổi bị bắt chắc
cũng để giữ bí mật cho quân đội giải phóng, vì các cậu nói bị
bắt khi đang chăn bò. Bên phía anh em dân tộc có khoảng ba mươi
người gồm những người có dính líu tới “ngụy quân ngụy quyền”, có
cả những người làm việc cho Cách Mạng nhưng bị “kỷ luật” vì sai
lỗi gì đó. Như trên đã nói: gọi là học tập chứ chỉ có lao động.
Công việc chủ yếu là trồng sắn mì. Hằng rừng mì, đi tới đâu là
trồng mì tới đó. Thứ cây dễ trồng. Cứ chặt khúc ra, vùi xuống
đất là sống và cho củ, năm này qua năm khác. Lá non cũng ăn
được. Nấu thật chín là hết độc, lại còn nhiều đạm hơn củ. Một
thư cây chiến lược. Một hậu cần bất tận cho quân giải phóng.
Trại cải tạo không cố định một
chỗ. Chúng tôi có khi ở dưới chân núi. Có khi di chuyển lên núi
hay bất cư địa điểm nào. Có báo động biệt kích là di chuyển.
Biệt kích là những nhóm ba người do Mỹ thả dù (thương là ban
đêm) vào những vùng nghi la có quân giải phóng. Những toán này
được trang bị đầy đủ súng ống, máy móc, quần áo và lương thực:
đều là những thứ tốt. Chính vì thế mà họ trở thành những con mồi
mà du-kích dân-tộc rất thích săn lùng. Du kích dân tộc thuộc nằm
lòng mọi ngõ ngách những cánh rừng quê hương. Chỉ cần một tổ ba
người phục sẵn ở một gốc cây, hốc đá nào đó chờ dăm ba tên biệt
kích trang bị mọi thứ máy móc, nhưng rừng núi đâu có phải quê
hương của họ. Trước khi kịp phản ứng thì họ đã gục ngã. Tránh
được bao cạm bẫy của người rừng thì đã gặp những lằn đạn của
những tay súng thiện xạ. . . Có kịp gọi máy bay, thi máy bay
cũng tới oanh kích một cánh rừng hoang không người. Bọn tù như
chúng tôi cũng đã di tản rồi.
Vậy biệt kích không nguy hiểm.
Nguy hiểm hơn đó là máy bay oanh kích trộm ban đêm. Nó bỗng xuất
hiện từ đâu đó, hễ thấy đốm lửa là thả ào xuống một quả bom.
Nhưng mọi người đã cảnh giác. Ban đêm toàn dân, toàn quân chẳng
chỗ nào đốt lửa. Vả lại, ai cũng thuộc lòng mấy câu : Đi không
dấu, nấu không khói, nói không nghe. “Không” đây là không để lọt
ra cho người ngoài. Nguy hiểm là máy bay trinh sát. Mấy “bà già”
này, ban ngày cứ lượn như diều hâu. Phát hiện có người, ít thì
nó bắn rocket, đông là nó gọi trực thăng hay oanh tạc cơ
skyraiders. Nhưng chúng tôi được hướng dẫn: khi nghe nó đến từ
xa, kịp ngồi xuống thì ngồi; lỡ đứng thì cứ đứng bất động. Trên
nhìn xuống, “nó” không phân biệt được người với cây. Có lần, có
anh du kích dẫn mấy người chúng đang đi ở chỗ không có cây to.
Không hiểu sao, có một máy bay trinh sát bay tới mà không ai
phát hiện tiếng động cơ từ xa. Nó bay qua chỗ chúng tôi. Rồi
bỗng nhiên nó vòng lại. Anh du kích quát: Đứng im! Bản thân anh
đã ngồi xuống. Anh tháo khẩu aka khỏi vai, lên đạn, chờ. . . Nó
bay qua chúng tôi. Vòng lại. Rồi đi luôn. Hú hồn! Có một lần,
chúng đi di tản về, cách địa điểm địa điểm quen ở khoảng vài
trăm mét, bỗng có hai oanh tạc cơ tới bay lượn rồi oanh kích.
Trước đó cán bộ đi theo chúng tôi đã bảo chúng tôi tìm nằm xuống
bên những cây đổ. Bom nổ rất gần. Anh cán bộ nói với Trần Sĩ
Thầy Sáu Tín : “Nằm nghiêng, đừng nằm sấp, tức ngực chết đó!”
Thả hết bom, chúng xả đạn. Sau đó chúng rút. Cứ từ 5 giờ chiều
là các thứ máy bay trinh sát, trực thăng hay oanh tạc đều không
hoạt động nữa. Có sĩ quan bộ đội còn nói, cứ 5 giờ chiều, bộ
binh mỹ cũng nghỉ hành quân, trừ khi họ bị tấn công. Mấy anh cán
bộ cho biết nguy hiểm nhất vẫn là những thả bom trải thảm của
máy bay B52. May trong mấy tháng ở tù, chúng tôi không phải gặp
B52. Nhưng nghe nói lúc đó, cho dù có B52, các đơn vị vẫn được
báo trước ít là 30 phút.
TRA HỎI
ã bị bắt, không sao tránh khỏi
bị tra hỏi. Trong chiến tranh, ranh giới phân vùng chưa rõ ràng,
vì vậy chúng tôi bị cả an-ninh Đak-Lak lẫn Gialai thẩm vấn.
Trong thời gian thẩm vấn, chúng tôi bị cùm riêng ra mỗi người
một nơi để không liên lạc bàn bạc hay thông báo được với nhau
những gì mình đã nói. Trong thời gian này Trần Sĩ Thầy Sáu Tín
bắt đầu có những biểu hiệu sốt rét. Cơm do một chú bé khoảng
14-15 tuổi cứ bữa đem đến. Thấy TST ăn không được, chú bé lại
lấy cơm ấy nấu thành cháo: nuốt cũng không nổi. Chú bé lại nấu
cháo với mấy con nhái bắt được, càng kho nuốt vì tanh quá! Chú
bé khuyên: phải ăn, không ăn là chết đó! Vì yếu mệt nên TST trả
lời thẩm vấn cách uể oải. Nội dung thẩm vấn bao giờ bắt đầu cũng
là “lý lịch”. TST sinh năm 1941 tại thôn Quang Xán, Huyện Mỹ
Lộc, Tỉnh Nam-Định. Từ 1941 đến 1951 sống với cha mẹ làm nông.
Từ 1951 đến 1954, vào học ở Đệ Tử Viện DCCT Hà Nội. Từ 1954 đến
1956,học tại Đệ Tử Viện DCCT Huế. Từ 1956 đến 1961 học tại Đệ Tử
Viện DCCT Vũng Tầu. Từ 1961 đến 1962, tu tập tại DCCT Nha Trang.
Từ 1962 đến 1969, học tại Học Viện DCCT Đalat, với các Lm Giáo
Sư Nguyễn Thế Thuấn, Bùi Quang Diệm, Đinh Khắc Tiệu,
Nguyễn-Ngọc-Lan. . . Từ 1969 sống tại Pleikly cho đến nay
(1971). Bản thân là thế, con gia-đình? Bố làm gì? Làm nông, chết
năm 1950 vì bom đạn. Mẹ và anh chị em hiện làm gì, ở đâu? Mẹ
(Trần Thị Kế sinh 1919) và hai em gái (Trần Thị Mến sinh 1947 và
Trần Thị Quý sinh 1950) hiện đang ở Sàigòn đi làm thuê nấu bếp
cho người ta. Và họ gán cho chúng tôi vào “thành phần dân nghèo
thành phố”. Chúng tôi cũng bắt đầu hiểu rằng lý lịch cũng có mục
đích phân biệt “thành phần”, phân biệt giai cấp. Sự phân biệt
này còn rất gay gắt vào thời đó.
Sau phần bản thân và gia đình,
chúng tôi được hỏi về Nhà Dòng: Nguồn gốc? Tổ chức? Chủ trường
đường lối? Sau đó là về Giáo-Hội Công-Giáo Miền Nam Việt-Nam. Về
phần này, Trần Sĩ Thầy Sáu Tín có vẻ không thuộc bài, vì không
nhớ Miền Nam lúc đó có bao nhiêu Giáo-Phận, tên các Giám Mục.
Chỉ nhớ chủ trương của Giáo Hội Công Giáo Miền Nam Việt Nam theo
tuyên ngôn Đại Hội các Giám Mục Á Châu họp tại Manila là: Giáo
Hội là Giáo Hội của người nghèo. Còn về cái gọi là Nhóm
Plei-Kly. Tại sao lại chọn Plei-Kly? Thưa vì Plei-Kly là một là
một làng cố định lâu đời, không phải là một làng di cư như một
số làng khác trong lúc chiến tranh và vì vậy cũng sẽ không di
chuyển khi hòa bình; Plei-Kly là tên một làng, nhưng cũng là tên
của một vùng gồm nhiều làng; Plei-Kly lại gần đường quốc-lộ,
tiện giao-thông và cũng tương đối yên ổn trong thời chiến. . .
Trừ nhà trong làng, các anh còn làm cai nhà gì ngoài đường quốc
lộ? Câu hỏi này cho thấy họ biết khá rõ những hoạt động của
chúng tôi. Căn nhà gỗ lợp tôn rộng 6m dài 36m ngoài đường cái do
Cha Tài xin tiền Caritas của Giáo-Phận cuối năm 1970 Thầy Sáu
Tính làm nhà dạy nghề mộc, nghề may cho lớp trẻ Jarai, nhưng
chưa hoàn thành. (Căn nhà đó từ năm 1973 sẽ được sửa lại làm nhà
ở và nhà dự tòng cho tới ngày nay). Ai chủ trương cho các anh về
Plei-Kly và sống tam cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân?
Trần Sĩ Thầy Sáu Tín đà trả lời: Chúa Yêsu! Mấy anh cán bộ đã
cười và không hỏi thêm.
Đối với anh em trong nhóm, ai
cũng thấy chính Chúa dẫn đưa chúng tôi vào nơi hoang vắng để ăn
chay cầu nguyện, để được Ngài chất vấn trước khi đưa vào Sứ-Vụ.
Thực ra cuối tháng ba, đầu tháng tư năm ấy, chúng tôi sống Tuần
Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa trong cùm. Trong cùm Thầy Sáu Tín
và Mầu cùng nhau hát những bài Tuần Thánh và những bài Phục Sinh
còn nhớ được. Thầy Đàn và cô Chín không biết hát, chỉ nghe,
trong cùm. Khi chúng tôi mới tới Plei-Kly, Chúa đã cho chúng tôi
được ở trong chuồng dê, như Ngài đã ở trong chuồng bò. Bây giờ
Ngài dẫn đưa chúng tôi vào cuộc tử-nạn với Ngài. Nhưng người
đáng được qua cái chết thực sự chỉ có Thầy Đàn.
CHẾT TRONG TÙ
ào cuối tháng tư, Cha Mầu là
người đầu tiên trong chúng tôi nếm mùi sốt rét “ác Thầy Sáu Tính”.
Nó bắt đầu bằng một cơn “sốt”, nóng vô cùng, rồi tiếp đến cơn “rét”,
lạnh vô cùng, lạnh từ bean trong lạnh ra, đắp mấy chăn cũng vô
ích. Người ta bảo: vi trùng đột nhập vào hồng huyết cầu, rồi phá
vỡ hồng huyết cầu. Bởi đó cho nên nước tiểu của bệnh nhân đỏ mầu
máu. Cơn sốt đầu tiên thường làm cho bệnh mê man hai ba ngày.
Sau đó dậy được hay không còn tùy từng người. Thầy Sáu Tín đã
khóc vì tưởng Mầu chắc sẽ chết. Hai ba ngày mê man, không ăn
không uống. Đại tiện tiểu tiện không biết luôn. Có lần thấy Mầu
có biểu hiện muốn đi tiểu, Thầy Sáu Tín bế ra khỏi sập nằm, cởi
quần, cho đi tiểu. . . Mầu mắt lờ đờ, chẳng nói chẳng rằng,
chẳng đi tiểu gì cả, mặc dù Thầy Sáu Tín thúc giục. Thầy Sáu Tín
mặc quần lại cho, rồi bế vào chỗ nằm. . . Mầu lại tì tì tiểu ra
quần! Thế là lại phải thay quần và đem đi giặt. May mà trong
những ngày Mầu hôn mê, cán bộ cho Mầu với Thầy Sáu Tín không bị
cùm, ban ngày thôi, để có thể chăm sóc cho nhau. Cán bộ cũng cho
mời y tá quân đội từ một địa điểm nào đó tới cho Mầu uống thuốc
và chích thuốc. Anh y tá này đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Đầu
anh có một vết hõm: dấu vết bom đạn Điện Biên. Từ chỗ anh đóng
quân đến trại cải tạo của chúng tôi, một mình anh đi mất ba ngày,
vì lạc đường! Anh lấy phần tiêu chuẩn của anh mà cho anh Mầu một
chút đường, và hai quả bứa mà anh hái được trên đường đi. Anh
nói: sốt rét mà có chút chua, chút ngọt là đỡ lắm. Anh có hỏi
thêm về bệnh tình của anh Mầu. Nhưng anh Mầu không trả lời được.
Thầy Sáu Tín xin mượn chiếc bút và cuốn sổ của anh và đưa cho
anh Mầu rồi bảo: Anh đau làm sao? Đau chỗ nào?. . . thì viết ra
đây. . . Thầy Sáu Tín nhét cây bút vào tay Mầu, nhưng Mầu không
cầm nổi, và bút rớt khỏi tay. Người như mất hồn. Anh y tá rời
chúng tôi.
Chính lúc đó, Thầy Đàn ra đi.
Thầy bị cùm ở một căn láng khác, cũng gần Thầy Sáu Tín với Mầu.
Có lần nghe Thầy nói: nước tiểu của tôi đỏ quá! Như vậy là Thầy
đã bị sốt rét ác Thầy Sáu Tính. Thầy có vẻ càng ngày càng yếu
đi. Hồi này không thấy Thầy đi châm cứu cho cán bộ. Khi khám xét
những vật dụng của Thầy lúc vào trại, biết Thầy có nghề châm cư,
các cán bộ đã cho Thầy giữ lại hộp kim châm cứu và thường nhờ
Thầy châm cứu khi gặp bệnh tật. 99% cán bộ, bộ đội ở trong rừng
đều bị sốt rét. Thầy cũng châm cứu cho tù nhân nữa. Tù nhân Jrai
không biết đến châm cứu. Nhưng có một anh tù Jrai, đêm nằm mơ
thấy mình đang ở giữa một giòng suối nước sâu, có nguy cơ bị
nước cuốn trôi, thì Thầy Đàn tới, giúp anh vượt qua đến bờ bean
kia. Chính anh Jrai đó, mấy ngày sau, bị táo bón, đau đớn quằn
quại tường chết luôn. Anh ta lại nằm ngay cạnh Thầy Đàn. Thầy
Đàn nói: không sao. Rồi Thầy lấy kim châm cứu cho anh ta. Thầy
nói: Lấy lá để sẵn dưới chỗ anh nằm, vạch phên sàn ra, chỉ năm
phút là anh sẽ đại tiện và khỏi. Đúng như lời Thầy nói: anh được
khỏi. Anh Jrai nói: nếu được về tới làng, anh sẽ giết heo làm lễ
nhận Thầy làm bố ngay. Việc này đã được báo mộng rồi. Nhưng anh
chẳng có dịp nào để làm cái lễ kết nghĩa cha con ấy vì Thầy Đàn
đã vĩnh viễn ra đi vào 0giờ 5 phút ngày 12/05/1971. Giữa đêm
tối, có tiếng của người Jrai cùng bị cùm với Thầy Đàn hô to: Ơi
tha djai laih! Ông già chết rồi! Người ta tháo cùm cho Thầy Sáu
Tín được sang với Thầy. Thầy chỉ có chiếc áo dòng Thầy Sáu Tín
mặc vào cho Thầy. Thầy cũng khéo làm sao mà xin được một anh du
kích Jrai một tấm chiếu đan bàng lá dứa dại. Những anh du kích
của các làng gần đó thường thay phiên nhau đến canh gác bọn tù
chúng tôi. Thầy Sáu Tín cuốn Thầy vào chiếc chiếu ấy, rồi bức
giây rừng cột chặt Thầy lại. Tới sáng, người ta phân công cho
một số anh em Jrai cùng Thầy Sáu Tín đào hố chôn Thầy, rất gần
với trại cải tạo, trên triền đồi. Thầy Sáu Tín nói với mấy anh
em Jrai: “Vất vả anh em quá! Nhưng xin anh em thương giúp chúng
tôi. Xin anh em đào hố cho sâu một chút.” Tôi nói thế vì thường
Jrai đào mộ rất nông: quan tài của họ là cả một thân cây được
đẽo, khoét và đậy nắp rất kỹ. Người ta kể có một người vào trong
quan tài và bảo đậy nắp lại xem có kín hay không. Lúc đó có một
con mang đi qua gần đó. Thế là mọi người uà rượt đuổi con mang,
lúc trở lại, mở nắp quan tài ra, thì người trong quan tài đã
chết ngạt. Chứng tỏ quan tài được đậy nắp kín chừng nào.
Khi chúng tôi đang đào huyệt tới
quãng đầu gối thì cán bộ cho người tới gọi Thầy Sáu Tín. Anh em
Jrai tiếp tục đào. Các cán bộ muốn găïp Thầy Sáu Tín để ký vào
biên bản về cái chết của Thầy Đàn. Họ nói: “Anh đã thấy rõ ông
Đàn chết vì bệnh sốt rét. Sau này khi về vùng địch, anh có nói:
Ông Đàn chết vì bị chúng tôi ngược đãi là tùy anh. . .” Thầy Sáu
Tín ký vào biên bản xác nhận Thầy Đàn chết vì sốt rét ác tính và
nói: “Dĩ nhiên là tôi thấy sao thì nói vậy. Chúng tôi không hề
bị tra tấn đánh đập. Chỉ có môi trường rừng là khắc nghiệt đối
với mọi người: cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân. . .” Sau khi
trao đổi chuyện trò khoảng nửa tiếng đồng hồ, Thầy Sáu Tín ra
phía mộ Thầy Đàn thì thấy rằng anh em Jrai đã chôn Thầy rồi.
Thầy Sáu Tín e rằng, anh em đào huyệt quá nông. Nhưng anh em thì
cứ quả quyết rằng đã đào sâu. Tuy nhiên sự kiện đến năm 2000,
chúng tôi nhờ anh em Jrai bốc được hài cốt Thầy Đàn về nguyên
vẹn, nghĩa là không bị con vật nào (như nhím chẳng hạn) đào bới
và hủy hoại, chứng tỏ huyệt đã được đào sâu. Lúc đó Thầy Sáu Tín
chỉ còn biết cám ơn anh em đào huyệt, rồi lấy hai, ba cục đá to
đặt lên mộ Thầy Đàn làm dấu cho mai sau.
Đến tháng sáu, tới lượt Thầy Sáu
Tín nếm mùi sốt rét ác tính. Lúc đó nhóm phạm nhân trại cải tạo
đã được di chuyển xuống phía chân núi. Một hôm trong khi đang đi
lao động trồng sắn mì, Thầy Sáu Tín lên cơn sốt rét, nằm phơi
nắng trên một thân cây đổ, mong cho bớt rét. Sau đó Thầy Sáu Tín
hoàn toàn đi vào hôn mê. Chiều đến anh em đã đưa Thầy về láng
trại như thế nào, Thầy hoàn toàn không biết. Cho đến ba ngày sau,
khi thấy đau nhói trên đầu ngón tay, Thầy mới tỉnh. Tỉnh rồi lại
hôn mê. Lại thấy đau nhói ở đầu ngón tay. Hóa ra Cha Mầu đang
châm “thập tuyền” cho Thầy Sáu Tín tỉnh lại. Khi đã tương đối
tỉnh, Thầy Sáu Tín bắt đầu nói: “Thôi!” Nhưng Cha Mầu vẫn tiếp
tục châm, đến nỗi Thầy Sáu Tín, đau quá, chửi thề luôn! Sau khi
Thầy Marcô Đàn qua đời, Cha Mầu thừa hưởng gia tài là hộp kim
châm cứu, và thường đi châm cứu cho các cán bộ. Các cán bộ thì
có thuốc hút. Trong khi châm cứu, Cha Mầu cứ tự nhiên lấy thuốc
của cán bộ phì phà. Lúc ra về còn xin một điếu, và còn xin thêm
một điếu cho “anh Tín”. Cha Mầu còn xin được cả chuối chín nữa.
Nhưng về tới láng trại Cha Mầu lại nói: “Tín đừng ăn: người còn
yếu, ăn bội thực” “Nhưng Tín thèm quá, cứ ăn, có mỗi một trái,
bội thực gì mà bội thực! Nhưng mà bội thực thiệt: sình bụng, khó
chịu lắm! Cha Mầu lại phải rang muối, pha nước cho uống. Uống
mấy bát, vẫn không nôn mửa được! Lấy ngón tay móc họng, cũng
không nôn mửa được! Thật là tham thực cực thân! Tín còn nằm mấy
ngày nữa, không đứng dậy được. Người chỉ còn da bọc xương. Các
cán bộ nói: Anh phải tập đi. Nếu không sẽ bại luôn! Thế là Tín
tập bước đi. Ban đầu lần theo vách trong nhà mà bước. Sau đó ra
ngoài, cứ từ cây này lần tới cây khác. Được một hai cây là đã
phải nghỉ. Nhưng rồi cũng được khá xa. Ra tận đến bên bờ suối
gần láng trại. Mùa nắng suối khô cạn là thế. Bây giờ giữa mùa
mưa, tháng sáu, suối đầy nước và cũng đầy cá! Tín xin cán bộ cho
giây cước và lưỡi câu. Chặt một cây le sẵn đó. Thế là hằng ngày
cứ ra suối câu cá. Mỗi ngày dược cả xâu! Cá lăn, cá trê, cá tràu,
cá trắng. . . Ban đầu, Tín cũng đem biếu cán bộ. Nhưng cán bộ
không nhận. Họ nói: họ cũng giăng lưới và cũng có cá ăn, anh cứ
giữ lấy mà cải thiện trong lúc ốm đau”.
|