|
LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO
CỦA DÒNG CHÚA CỨU
THẾ TẠI TÂY NGUYÊN
ét độc đáo của Dòng Chúa Cứu Thế tại Tây Nguyên là “từ dưới lên”,
cụ
thể là từ một nhóm trẻ, vừa Linh Mục vừa học viện, vừa các thầy
không chức. Đa số còn trẻ và người khai phá, đầu tầu là Linh Mục
ANTÔN VƯƠNG ĐÌNH TÀI. Trước khi theo dõi các ngài trong “Sứ vụ
Jarai”, chúng ta tìm biết qua về cha Antôn Vương Đình Tài, một
thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, người Chúa đã chọn để thực hiện công
cuộc truyền giáo xứ Jarai”
LINH MỤC
ANTÔN VƯƠNG ĐÌNH TÀI
ntôn Vương Đình Tài sinh ngày
12-6-1930 tại Thọ Ninh, tỉnh Hà Tĩnh. Cha kể về ơn gọi vào Dòng
Chúa Cứu Thế của mình như sau :
“Hồi ấy có các cha Dòng Chúa Cứu
Thế người Canada về giảng Đại phúc ở làng tôi (một trong các vị
là cha Côté). Nhà tôi sát với nhà thờ, bố mình là ông câu của họ
đạo, gia đình 9 người con chết một khi còn nhỏ, còn 8, có truyền
thống đi tu: một bà chị Dòng Kín, một ông anh là Linh Mục, cha
Vương Đình Bích. Khi các cha Dòng Chúa Cứu Thế về giảng mình bé
xíu, đi nghe ké nhưng không hiểu gì, chỉ khoái cha giảng phòng,
cố Tây nói tiếng Ta, áo Dòng đẹp. Thế là khoái đi tu. Bố mình
trình với cha xứ, cha Dòng bảo em nào muốn đi tu thì vào nhà xứ
dự thi. Một lũ giấy bút vào nhà xứ, 5 tên đậu, trong đó có mình.
Mình có người anh họ con ông bác ruột, anh Vương Đình Lương (hiện
nay là thầy giảng phục vụ tại giáo phận Bắc Ninh) lúc đó đang
theo học tại trường Pellerin Huế. Thằng bé lên tàu theo anh vô
kinh đô, từ ấy chưa một lần về quê Thọ Ninh, lại càng chưa hề
biết Bắc với thủ đô yêu dấu Hà Nội”.
Sau thời gian học Đệ tử, Antôn
Tài vào nhà tập, Khấn Dòng 15-8-1952, chịu chức Linh Mục tại
Đalat ngày 5-9-1959.
Sau khi nhận tác vụ Linh Mục, cha
Tài vào Trung tâm truyền giáo Fyan làm việc với các thừa sai
Canada, một nơi không có an ninh bao nhiêu. Cha là thừa sai Việt
Nam đầu tiên lo cho người Dân tộc. Cha nói : “Tôi tự đặt câu hỏi
: tại sao các cha Canada, người nước ngoài, đối tượng không tốt
của cuộc chiến lúc bấy giờ, vậy mà các ngài lại vào nơi đèo heo
hút gió này, còn học viện, các cha, các thầy người Kinh thì
không nghĩ đến anh em Dân tộc trong cộng đồng Việt Nam mình”.
Cha Tài làm việc ở Fyan đến năm
1969 thì xin Bề trên cho đi tìm một vùng đất truyền giáo mới.
Với phép của cha Giám tỉnh thời đó là cha Benoit Hoàng Quang
Lượng, cha và thầy Léonard Hồ Văn Quân lên đường qua Phan Rang
nhắm hướng Ban Mê Thuột, vào chào Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Mai.
Đức Cha đề nghị cho các ngài vùng Đồng Xoài, Bù Đăng để lo trước
tiên cho người di cư. Không đúng chí hướng : “đoàn thám hiểm”
lại lên đường, đi Cheoreo. Cha Phaolô Vũ Văn Thiện giúp gặp Đức
Cha Seitz, Giám Mục Giáo phận Kontum. Đức Cha đề nghị các ngài
chiêu mộ thêm anh em. Một nhóm trẻ xung phong nhập cuộc : các
thầy học viện Phêrô Nguyễn Đức Mầu, Giuse Trần Sĩ Tín.
Ngày 10-10-1969, nhóm thừa sai
tiên khởi gồm 4 người đã được chính Đức Giám Mục đưa đi “ném”
vào rừng Pleikly, bất ngờ đã đáp ứng lời kêu gọi của vị Giám Mục
đã hai lần chính thức xin các Bề trên lập Dòng tại Kontum năm
1953 và 1956.
Đúng như trong truyện cổ tích
thánh với nét nổi bật là liều lĩnh chỉ vì tín thác vào Thiên
Chúa. Các thừa sai tiên khởi khai phá Pleikly đến nơi không có
nhà cửa hoa lợi và … tương lai gì cả. Cha Tài đã cùng anh em
nhập gia tùy tục, cùng sống với dân buôn làng, chịu kham chịu
khổ. Mấy lần bị mặt trận đưa vào rừng, có lần bị tước sạch xe cộ
dụng cụ … Thế nhưng các thừa sai vẫn bám trụ, làm ruộng, cất
nhà. Có thêm anh em đến Giáo điểm tháng 3 năm 1971 và tháng
8-1971. Có người anh em, thầy Marcô Đàn chết trong rừng.
Cha bỏ Pleikly về Pleichoet năm
1972. Các cha vẫn bám trụ năm 1975, khi dân chúng nườm nượp đi
di cư.
Sau 30-4-1975, công việc gặp khó
khăn, có nơi các ngài không đến được hay không được đến. Cha Tài
lại bị tạm giữ trong thời gian ngắn. Cha vẫn cứ tiếp tục công
việc và bắt tay vào công trình lớn lao là xây nhà Rông sẽ là nhà
thờ Trung tâm Pleichoet.
Cha đã yếu đi nhiều, nhưng cha
được niềm vui thấy có người anh em đến với quyết tâm nối tiếp
việc truyền giáo tại đây, cha Batôlômêô Nguyễn Đức Thịnh.
Cha Antôn Vương Đình Tài lâm bệnh
nặng và qua đời ngày 27-5-2005 trong sự thương tiếc mến trọng
của mọi người, cách riêng của những người con cái Jarai đã được
hưởng nhờ lòng nhiệt thành đầy mạo hiểm của ngài và các anh em
thừa sai Tây Nguyên để được thăng tiến về mọi mặt, và nhất là về
đường tinh thần thiêng liêng.
Cha Antôn Vương Đình Tài sẽ sống
mãi tại Trung Tâm Truyền Giáo Pleikly-Pleichuet, Pleiku. Cha là
vị thừa sai đã đi theo linh ứng của Thánh linh để lên đường
truyền giáo và cha đã chọn ngày Chúa Thánh Thần Hiện xuống làm
bổn mạng của Trung tâm truyền giáo Pleichuet.
Cha Trần Sĩ Tín viết : “Hình ảnh
của cha Tài trong lòng người Tây Nguyên là hình ảnh một con
người cầu nguyện, một con người của Thần khí, một con người của
Đức Mẹ”.
Hằng năm, đến ngày giỗ của Cha,
người Dân tộc tại nhiều làng đưa nhau với cồng chiêng ca múa
quanh mộ cha suốt từ 3 giờ chiều đến 11 giờ đêm rồi lại suốt
buổi sáng hôm sau với Thánh lễ tại nghĩa trang Pleichuet.
Ngôi nhà thờ độc đáo theo kiến
trúc Dân Tộc tại Pleichuet được đặt viên đá đầu tiên ngày lễ
thánh Anphong 1-8-2003, có sự tham dự của cha Giám Tỉnh Phạm Huy
Lãm đã được cha Thịnh hoàn tất. Nhà thờ được khánh thành ngày
1-9-2005, vào dịp lễ giỗ 100 ngày của người đã sáng lập Trung
tâm giáo điểm Pleikly và đã suốt 36 năm tận tụy là “người Jarai
giữa người Jarai” để Tin Mừng được đến nơi vùng Tây Nguyên này.
MỘT THẾ HỆ TRẺ NHIỆT
THÀNH VÀ MẠO HIỂM
hóm trẻ, vừa Linh Mục, vừa các
thầy học viện và trợ sĩ có chí hướng tìm một hướng đi đến với
những người miền núi Tây Nguyên. Nhóm trẻ này đã có những khắc
khoải AD GENTES đi đến với những người chưa được biết Chúa Kitô,
không mấy ai nghĩ đến, cụ thể là những người dân tộc nơi rừng
xanh núi đỏ. Các ngài muốn lăn xã vào cuộc sống của họ, với họ,
khai phá một cộng đồng mới mẻ để đem cho họ cuộc sống Tin Mừng.
Chí hướng đó đã nằm lòng ngay từ
khi còn ở học viện. Nhờ đường hướng của các bề trên như cha Giám
học Têphanô Nguyễn Tín, chúng tôi đã “phá rào”, mặc đồ thường
lấy trong kho “đồ tuồng” của học viện để đi công tác Legio với
các anh chị em ở Đalat, để đi đến các chùa học về Phật giáo. Cha
Tài là một người thường xuyên đi “thực tế” vào thời gian cuối
thập niên 50.
Từ ý tưởng một ngày kia có thể
các thừa sai Canada sẽ không còn được ở Việt Nam nữa, cha Tài
khởi sự thực hiện ý muốn của mình bằng cách nhập nhóm truyền
giáo Fyan.
Khi đã lên đường đi Tây Nguyên
tìm địa điểm mới với thầy Hồ Văn Quân và được Đức cha Seitz
khuyên tìm thêm người, cha đã chinh phục được những người trẻ :
Giuse Trần Sĩ Tín, Phêrô Nguyễn Đức Mầu, 4 anh em đã khởi công
sứ vụ Jarai trên một chiếc xe Citroen 2 ngựa nhỏ bé. Ngày
10-10-1969, nhóm thừa sai tất cả là tình nguyện đặt chân đến
Pleikly một làng nhỏ bên quốc lộ 14 cách Pleiku 60km. hành trang
là bài Phúc Âm Luca 10, 1-12 và lệnh truyền sứ vụ của Đức cha
Paul Seitz.
Cha Vương Đình Tài kể :
“Đức Giám Mục Kontum Paul Seitz
Kim dẫn (chúng tôi) tới một vuông đất trống, đối diện với ngôi
trường làng. Trong làng không một ai có đạo, nhóm chẳng hề quen
biết ai, tất cả đều xa lạ. Đức Cha rút trong túi ra cuốn Kinh
Thánh, đọc đoạn Tin Mừng Luca về việc Chúa sai 72 môn đệ đi
giảng cho muôn dân, rồi lên xe về lại Pleiku - Kontum. Trước khi
đi, ngài còn nói : “Dòng Chúa Cứu Thế gửi về đây có 4 người, nếu
gửi 72 người tôi cũng xin nhận.” Ngơ ngác ! Nhưng trước tiên là
phải có chỗ ngủ đêm nay. Có một gia đình nhận cho tá túc, nhưng
chỉ vài phút sau, bà vợ hớt hải từ rẫy về, xua tay nói là không
được, bởi trong nhà đang có người bệnh, do đó theo phong tục của
làng không đón khách đỗ nhà. Những người mà nhóm tiếp xúc đầu
tiên là Ơi Gưng già làng, Ama tên xã trưởng và ông Cậy một người
Kinh ở phía quận lỵ Phú Nhơn. Những người này chỉ sang ngôi
trường tiểu học trước mặt, trong đó có một gian không dùng làm
lớp học mà để nhốt đàn dê, nồng nặc mùi phân và nước tiểu của
dê. Ông Cậy cho mượn một chiếc giường để trưởng đoàn ngả lưng,
còn ba người an giấc trên nền ciment sau khi đã làm vệ sinh qua
loa căn phòng”.
Cha Trần Sĩ Tín lúc đó còn là phó
tế cũng nói về cái ngày lịch sử đó và cuộc sống thời gian đầu ở
Pleikly với nhiều chi tiết mới khi trả lời phỏng vấn của Nguyệt
san Đức Mẹ tháng 8-1972 như sau :
“Ngày mồng 10-10-1969, cùng với
Giám Mục Kontum (Đức Cha Paul Seitz), chúng tôi tới Pleikly
không nhà không cửa, chẳng quen biết người Jarai nào trong
Pleikly, mới bập bẹ được vài tiếng Jarai học được ở Cheo Reo.
Anh Trần Sĩ Tín còn đánh mất dọc đường cái xách tay duy nhất của
anh trong đó có vài bộ quần áo, vài cuốn sách. Anh tiếc nhất
cuốn Tân Ước tràn ngập chú thích ghi được trong những năm học ở
Đại chủng viện.
“Giám Mục đã đọc và giải thích
cho chúng tôi đoạn Tin Mừng Luca 10,1-12 nói về việc Chúa sai 72
môn đệ đến mọi thành và nơi chốn. Sau đó ngài chúc lành cho
chúng tôi, rồi lên xe về lại Kontum. Vì hoàn cảnh không quen ai
nên tới tối chúng tôi vẫn chưa tìm được nhà nào chịu cho chúng
tôi ngủ trọ. Chúng tôi đành ngủ lại một căn phòng trường sơ cấp
trong làng. Chúng tôi có mang theo chăn, nhưng không có giường.
“Từ sáng hôm sau và những ngày
tháng kế tiếp, chúng tôi bắt đầu làm quen với dân làng. Nhà nào
cũng vào, gặp ai cũng chào hỏi. Họ cho gì ăn nấy. Vừa ăn vừa học
tiếng … Rồi no đói, khát mặn nhạt cay, đắng ngọt, bùi … Rồi đến
mùa gặt , chúng tôi xin bà con cho chúng tôi cùng gặt. Thế là có
những buổi trưa chúng tôi cùng ăn trong ruộng lúa, có những kỹ
thuật canh tác và thêm một số tiếng nói … Cứ như thế : cùng ăn,
cùng làm, cùng nói, dần dần chúng tôi thân với họ, biết họ hơn
và họ cũng biết chúng tôi hơn. Họ biết chúng tôi không phải là
nhân viên cán bộ của chính phủ, không phải là những kẻ ăn lương
của chính phủ. Họ giao con cái họ cho chúng tôi và nói : “Các
anh hãy dạy cho chúng biết điều của các anh”. Một buổi tối bên
đống lửa, một bô lão nói : “Chúng tôi đã lãnh đạo dân chúng đến
độ này … thời của chúng tôi qua rồi … Các anh hãy tiếp nối dìu
dắt dân chúng của chúng tôi. Một người khác có học hơn nói : “Từ
trước đến nay, người ta chỉ giúp chúng tôi về mặt cơm ăn, áo
mặc, nhà ở, trường học chưa có ai nói cho chúng ta về tinh thần,
về tốt xấu, về hạnh phúc, những người này đến đây dậy cho chúng
ta những điều ấy…”
“Các thừa sai được chấp nhận,
được có đất như mọi người, cũng cày sâu cuốc bẫm, sống gần gũi
mọi người, như mọi người Jarai. Nhờ đó mà dần dần hiểu tiếng.
Người Jarai đã coi các thừa sai như là những người lối xóm, “Trẻ
thì gọi chúng tôi bằng anh. Ngang tuổi gọi bằng bạn. Người già
hơn kêu chúng tôi bằng con bằng cháu.”
Động lực nào thúc đẩy cuộc sống
ấy. Trần Sĩ Tín xác định : “Đó không phải là một chiến lược để
lấy lòng dân, một sách lược tuyên truyền cần lấy cảm tình trước
khi rao giảng. Điều chúng tôi nhắm là cố gắng thể hiện ngay
trong nếp sống thường nhật của mình mầu nhiệm THIÊN CHÚA Ở CÙNG”
Cuộc truyền giáo và lập cộng đoàn
Dòng Chúa Cứu Thế Tây Nguyên bắt đầu từ con số không. Đúng hơn,
công việc vĩ đại này đã bắt đầu với nội lực là lòng nhiệt thành
tông đồ của nhóm trẻ, cùng với lệnh sai đi của Bề Trên thời ấy
là cha Bênêđitô Hoàng Quang Lương và của vị Giám Mục Kontum đã
nhiều năm tha thiết được có Dòng Chúa Cứu Thế tại địa phận của
Ngài.
Nhóm thừa sai Tây Nguyên, với
việc mở mang nhiều giáo điểm, đã có thêm nhiều anh em : “Thầy
Hilario Đinh Văn Thảo : tháng 3-1970, Thầy Marcô Trần Văn Đàn
tháng 10-1970. Thầy Đàn sẽ là người hy sinh đầu tiên tại Tây
Nguyên ngày 12-5-1971.Antôn Trần Ứng Tường đã nhập đoàn Tây
Nguyên, được lãnh tác vụ Linh mục 7-12-1974 và tiếp tục làm mục
vụ tại Pleiku, nhưng chuyên lo giáo xứ An Khê với thành phần chủ
yếu là người Kinh. Cha Gioan B. Nguyễn Văn Phán bỏ Saigon lên
Pleiku ngày 21-6-1971. Cha Giuse Hồ Tấn Tư hạ quyết tâm gia nhập
Kontum, nhưng bị bệnh và qua đời tại Saigon 5-5-1971.
Sau 30/4/1975, các thừa sai Tây
Nguyên cũng gặp những khó khăn dễ hiểu: bị hạn chế làm mục vụ
tại nhiều nơi, gặp khó khăn khi di chuyển. Cha Tài bị cầm chân ở
Pleichoet. Cha Mầu về Saigon chữa bệnh không trở lại Pleiku được
do không có hộ khẩu. Cha Nguyễn Văn Phán ở Cheo Reo qua thời
gian khó khăn và sau thì rời bỏ giáo điểm về Saigon. Cha Trần Sĩ
Tín và thầy Quân về Pleikly. Cha Trần Ưng Tường tiếp tục mục vụ
tại giáo xứ An Khê cho đến ngày bị bệnh và phải về hưu dưỡng tại
Saigon.
NHỮNG GIAN NAN CỦA
TÂY NGUYÊN
òng Chúa Cứu Thế tại Tây Nguyên
là một “thiên hùng ca” của việc Truyền giáo tại Việt Nam, theo
đường hướng Fyan, Châu Ổ theo đúng tinh thần của Thánh Cuenot
Thể từ hơn 150 năm nay khi gửi các thừa sai trong đó có Cha
Fanxicô Xavie Nguyễn Do - Thầy Sáu Do, lên “mở đạo” ở Tây Nguyên
Mạo hiểm, tràn ngập hy sinh và
nặng trĩu Thánh Giá
Chúng ta đã nháng thấy qua mấy
trang lịch sử tóm gọn trên đây những gian nan buổi đầu, nhưng đó
mới chỉ là một phần nhỏ so với những gì mà các thừa sai tiên
khởi và nối tiếp đã lãnh nhận, trải qua vì bị thúc đẩy bởi Tỉnh
Yêu - Thiên Chúa và lòng trung tín với sứ mệnh cứu thế đã lãnh
nhận từ thưở nào khi chọn cuộc sống tu sĩ Linh Mục Dòng Chúa Cứu
Thế.
Các vị thừa sai được “ném” vào
cuộc, khi không có sự chuẩn bị tối thiểu là được tìm hiểu về nơi
và những người sẽ chia sẻ cuộc sống và chờ đợi ở mình rất nhiều,
một trong những vũ khí hàng đầu và cần thiết là ngôn ngữ của họ.
Các Ngài đã đến một nơi hoàn toàn lạ lẫm, không quen biết một
ai, không nói được tiếng bản địa. Nơi trú ngụ cũng không. Đấng
Cứu Thế đã đến trần gian và đã có một chỗ trong chuồng bò lừa
thì các thừa sai Tây Nguyên đã phần nào dành chỗ của bầy dê.
Đúng là các Ngài không còn biết
dựa vào đâu. Như Abraham, họ chỉ biết là phải lên đường. Sức
mạnh và lòng tín thác vào Thiên Chúa, tin chắc rằng công cuộc
này chỉ lệ thuộc vào Chúa.
Điều phải nói đến trước hết là
lòng gan dạ của các anh em thừa sai Tây Nguyên. Vương Đình Tài
vừa chịu chức xong đã xin được đến với việc truyền giáo cho
người thiểu số và đã mạo hiểm lên đường như Abraham đi tìm đất
hứa. Trần Sĩ Tín mới là Phó tế mà đã theo gương Têphanô xông pha
làm chứng cho Chúa Kitô, Đấng đã “VÀO ĐỜI”, khi Ngài cùng với
anh em cùng chí hướng thành lập nhóm mang tên “Vào Đời”, để đem
vào đời sống cá nhân và mục vụ những chỉ thị và theo đường hướng
của Vatican 2. Thầy Léonard Hồ Văn Quân xem ra chỉ muốn là tông
đồ giữa người Dân tộc từ trong lẫn ngoài…
Các anh đã muốn đến với người
nghèo, trong cách sống, trong cuộc mưu sinh, đã rủ nhau đi làm
thuê, cuốc đấ trồng khoai cho các gia đình di cư quanh nhà Dòng
Đalat ở Tùng Lâm. Các anh “sợ” những ngôi tu viện hoành tráng đủ
tiện nghi và mơ tưởng đến những căn nhà nhỏ ấm cúng trong đơn
giản và lao động cật lực. Chiếc áo tu không phải là bắt buộc và
cần thiết khi nhận thấy một thừa sai như cha Jacques Dournes,
thừa sai Paris đóng khố như người Thượng để sống và chứng tá
giữa người Thượng.
Cha Antôn Vương Đình Tài hẳn là
người đi trước và những khắc khoải của Ngài đã gặp được các
“đồng chí”, khi ngài về học viện để chiêu mộ những thừa sai cho
miền Tây Nguyên. Có ngay những người đầu tiên và có thêm những
người tiếp nối. Lửa “thừa sai” vẫn hùng mạnh trong các thế hệ
Dòng Chúa Cứu Thế, dưới sức mạnh đưa dẫn của Thánh Thần Thiên
Chúa. Nhất quyết ưu tiên khi đến với những người khốn cùng nhất
trong xã hội, những người dân tộc, và cho đến nay một trong
những người tiên khởi, Cha Giuse Trần Sĩ Tín vẫn không bao giờ
chấp nhận đề nghị lập Giáo xứ và đã khẳng định là nếu Pleikly
trở thành giáo xứ qui củ thì Ngài sẽ xin đi nơi khác để “khai
phá”
Phía nam Pleiku, trên quốc lộ 14,
thời đó hoàn toàn là rừng rú hoang dã.
Phải nói ngay là truyền giáo đối
với nhóm thừa sai Tây Nguyên là việc của Thiên Chúa. Kết quả là
bởi Chúa. Thừa sai “vào đời” để Chúa hiện diện. Cha Tín viết:
“Từ 1969 đến 1989, 18 năm ròng chỉ mò cua bắt ốc, rồi cứ nhào
vào làm cho dân, chả ai thuê cũng cứ làm, đến mùa được chia
lúa…” “không giảng đạo, làm nghề nông và … đá banh với bọn trẻ”
Đã “vào đời” thì cùng sống với
mọi người, mọi biến cố vui buồn. An ninh vùng này không mấy bảo
đảm. Tháng 3/1971, súng nổ. Quân giải phóng về. Họ đốt chiếc xe
Jeep và quăng luôn xe honda vào lửa, khám xét nhà.
Cuối cùng thì đã xẩy đến: Trung
tâm Pleikly bị cướp phá, mọi người có mặt bị dẫn vào rừng. Sự
việc xảy ra vào tháng 3/1971.
Cha Phêrô Nguyễn Đức Mầu người đã
ở Giáo điểm được một năm và vừa được chịu chức Linh Mục được một
năm ngày 21/03/1970 tại Kontum do Đức Cha Paul Seitz, thầy Giuse
Trần Sĩ Tín vừa chịu chức phó tế ngày 04/04/1970 tại Saigon và
thầy Marcô Đàn. Theo Cha M. Laliberté thì: “Một người dân tộc đã
thoát tù đã cho biết là cả 3 rất suy nhược. Cha Mầu đi đứng
không được. Một nắm cơm và một tí muối hai lần một ngày mà phải
làm việc 8 tiếng. Ban đêm, những người tù phải nằm giữa ruộng
với ít rơm. Rừng miền núi Pleiku luôn là rất đáng sợ”
Bộ đội dẫn đường. Thỉnh thoảng
máy bay oanh kích. Họ dặn là phải nằm nghiêng vì nếu nằm sấp thì
dội bom có thể làm bể lòng ngực. Kinh nghiệm hiếm có.
Thầy Đàn vẫn dùng bộ kim châm cứu
chữa bệnh. Sức yếu lại thêm bệnh, thầy qua đời 12/5/1971. Sau
khi thầy Đàn qua đời, 3 người còn lại: Tín, Mẫn và chị Chín được
thả về sau 3 tháng bị giam giữ trong rừng.
Một nhóm thợ rừng đã đưa các
người tù vừa được trả tự do ra quốc lộ. Về đến nhà, quần áo phải
đốt sạch vì đầy chí rận qua mấy tháng “ăn bờ nằm bụi” không hề
có savông.
THẦY MARCÔ BÊNAĐÔ
TRẦN VĂN ĐÀN (1)
rần Văn Đàn sinh ngày 20/8/1922,
tại Kẻ Sặt, Hà Nội. Đã vào Đệ tử Huế với chí hướng làm Lingh
Mục. Nhận thấy mình không đủ lực học, đã xin được làm “thầy trợ
sĩ”. Khấn Dòng ngày 8/9/1946.
Thầy Marcô đã qua nhiều năm phục
vụ tại nhà Huế, Đalat, Saigon và được gửi sang Nhật phục vụ tại
Phụ Tỉnh Nhật trong 3 năm. Khi trở về Việt Nam, thầy nhập nhóm
thừa sai Tây Nguyên vào cuối năm 1970. chỉ thời gian ngắn, du
kích, bắt tất cả các cha các thầy vào rừng, hỏi cung về đủ mọi
thứ. Anh em bị sốt rét, kiết lị mà không có thuốc men gì. Thầy
dùng kim châm cứu chữa bệnh. Thầy Đàn vừa bị bệnh vừa sức yếu đã
không qua được. Thầy bị sốt ác tính. Cha Tín kể: “Vào lúc 11g05
giờ miền Nam, tức 12g05 đêm 12/5/1971, mấy anh Thượng nằm gần
thầy la lớn: “Ông già người Kinh chết rồi”. Cũng phải đợi tới
sáng, được tháo cùm, mình qua chỗ thầy nằm. Lúc ngã bệnh, thầy
xin được của một anh du kích Jarai một chiếc chiếu đan bằng lá
dứa chứ không phải loại bằng chiếu cói như ta thấy ở miền xuôi.
Có lẽ anh du kích này cũng là thân chủ châm cứu của thầy chăng.
Tôi mặc áo Dòng cho Thầy, lấy chiếu cuộn lại và lấy dây rừng cột
chặt. Rồi đi vào huyệt cùng với mấy anh Jarai trên một triền
núi… Mới đào đến đầu gối thì có mấy du kích gọi tôi vào. Chẳng
có chuyện gì ghê gớm, chỉ là để an ủi và yêu cầu tôi nếu mai mốt
về lại làng, thấy sao nói vậy, anh Đàn chết vì bệnh. Tôi cũng
xác nhận là cả tôi và bộ đội cũng bị bệnh. Trên 90% những người
ở đây đều bị sốt rét ác tính. Lúc tôi quay trở ra thì anh em
Jarai đã chôn thầy Đàn xong rồi. Tôi chỉ còn biết khiêng mấy hòn
đá để đánh dấu.”
Thầy Bênađô Đàn được chôn cất bên
đất Miên một ngày đường. Thầy là của lễ đầu mùa của Trung tâm
Truyền giáo Tây Nguyên. Thầy đã để lại kỷ niệm tốt cho mọi
người.
Ngày Lễ Truyền Tin 25/3/2000, sau
29 năm được chôn vùi trong rừng, sâu trong biên giới Campuchia,
thầy Marcô Đàn đã được anh em Jarai, nhờ một người tù cũ đã tham
gia chôn cất thầy dẫn đường đã tìm lại hài cốt của thầy và đem
về Pleikly.
Cha Sĩ Tín viết: “Thầy trở về với
Pleikly như dấu chứng Thầy luôn có mặt và tham gia vào Sứ vụ Rao
Giảng Tin Mừng giữa người Jarai. Thầy sống và chết cho người
Jarai, với người Jarai. Chính vì vậy mà dân làng Pleikly đã chọn
thành Marcô làm bổn mạng của mình, để nhớ Thầy mãi mãi.”
Trở lại biến cố sau khi mấy anh
em bị đưa vào rừng hồi tháng 3/1971. lúc ấy cha Tài đi Pleiku.
Ngài trở về nhà để chứng kiến sự trống vắng và cảnh tàn phá tan
hoang. Cha dựng một cây Thánh Giá giữa đổ nát, thu gom vật dụng
còn sót lại để làm một cái lều và sự cô đơn của cha đã được san
sẻ khi cha Gioan B. Nguyễn Văn Phán lên thăm và quyết ở lại Tây
Nguyên ngày 21/6/1971. Phải có sự can đảm và lòng nhiệt thành
thừa sai mới ở lại trên mảnh đất này và cũng đáng nể phục người
mới tới, mặc dầu chứng kiến nhãn tiền nhưng đe dọa và bấp bênh
của “kiếp thừa sai Tây Nguyên” vào thời gian đó, thế mà vẫn
quyết định ở lại, cùng cam cùng khổ.
Chỉ một thời gian sau, tháng
8/1971, du kích lại về và lần này thì cả cha Tài, cha Phán bị
đưa vào rừng, bị giữ từ 26/8 đến 2/9/1971. Cha Tín lúc đó bị sốt
rét nặng và đang về điều trị ở Saigon.
Được thả về, các thừa sai vẫn gắn
bó với người Jarai. Năm 1972, cha Antôn Tài về Pleichoet, làm
nhà, nhà nguyện, dùng thì giờ canh tác rau để đem ra chợ bán nhờ
đó mà cha làm quen được với nhiều người, sống khó nghèo, ăn
những gì người ta ăn: lá khoai, mì, măng, cá khô. Cha lập nơi để
giới trẻ và trẻ con đến chơi. Cha dạy giáo lý. Số người xin học
đạo mỗi ngày thêm đông và lễ Phục Sinh 1976 có lễ rửa tội 12
người đầu tiên ở làng Pleichoet. Từ đó cha đi đến các làng lân
cận.
Các thừa sai Tây Nguyên còn lại
về Cheoreo và dành thời giờ để dịch Tân ước sang tiếng Jarai.
Cha Sĩ Tín được trao nhiệm vụ về Saigon lo việc in Kinh Thánh
Tân ước vào năm 1973.
Sau 1975, mục vụ thêm khó khăn.
Cha Tài bị tạm giam một tuần. Nhiều nơi các Cha không đến được
thì có những giáo phu, những người tân tòng đã được Thanh Tẩy
thúc đẩy để đi đem đạo cho người khác như Ama hu ở cây số 82, ở
Pleitôt. Năm 1992 ở làng này chỉ có vài người được Thanh Tẩy mà
nay đã có 42 làng có người Công Giáo. Mùa gặt đã đến. Giờ của
Chúa đã điểm tại Trung Tâm Truyền Giáo Pleiku.
Việc truyền giáo Tây Nguyên thật
gian nan, chậm chạp, lại còn qua nhiều thử thách, phá hoại.
Nhưng cha Trần Sĩ Tín đã thưa với Chúa: “Công việc Truyền Giáo
là của Chúa.”. Thế rồi “không còn thì giờ đi mò cua bắt ốc nữa”,
mà là lu bù với công việc mục vụ dồn dập. Số người con Chúa ngày
càng thêm đông. Chỉ Trung tâm Pleikly đã có 14.925 giáo dân gồm
5.728 người Kinh rải rác trong 25 giáo họ và 9.197 giáo dân
người Jarai trong 89 làng. Mùa màng như được thấm mồ hôi và máu
hy sinh gian khổ đã sinh sôi nảy nở.
Tại Pleichoet, có 12.000 giáo dân
Jarai trong 100 làng chưa kể mấy ngàn người dự tòng.
Cheoreo có 4.000 giáo dân Jarai
trong 14 làng và khoảng 5.000 người dự tòng.
DÒNG CCT TÂY NGUYÊN
KỶ NIỆM 30 NĂM
TRUYỀN GIÁO
iáo điểm Tây Nguyên mừng 30 năm
Truyền Giáo 10/10/1969 - 10/10/1999. Trong thư gửi cho cha Phụ
trách Cộng đoàn DCCT Tây Nguyên Nguyễn Văn Phán, Đức Cha Phêrô
Trần Thanh Chung viết :
“Ba mươi năm qua, ba mươi năm
gieo vãi Tin Mừng. Ba mươi năm phục vụ yêu thương. Ba mươi năm
hồng phúc. Trong những điều kiện hết sức khó khăn, hoàn toàn
vượt sức con người, ánh sáng niềm tin vào Chúa Kitô Vượt Qua đã
giúp chúng ta thêm tin rằng “chính khi tôi yếu lại là lúc tôi
mạnh”. Thậm chí không phải chúng ta làm mà là chính Chúa làm qua
con người bé mọn của chúng ta. Từ con số ít ỏi, nay số nay anh
chị em Jarai tin đạo đã lên hơn 15.000 người. Và còn đông đảo
anh chị em đang tìm về với Chúa! Xin chúc tụng Chúa!”
Các Thừa sai Tây Nguyên cũng nói
lên những tâm tình và cảm nghĩ của các ngài :
Cha Sĩ Tín nói: “Khoảng 20 năm
đầu không có người Dân Tộc trở lại. Nhưng từ năm 1987-1988 đến
nay, anh em Jarai, Bana trở lại rất đông. Rõ ràng việc Chúa
làm…” Cho đến thời điểm lọch sử này, cha Sĩ Tín đã rửa tội cho
khoảng 5.500 người Jarai ở 70 buôn và người Bana ở 3 buôn, số
giáo dân khoảng 3.000 người, số dự tòng khoảng hơn 1.000 người,
giáo lý viên 70.
Cha Nguyễn Văn Phán cũng chia sẻ
về Giáo điểm Ayunpa: “Trước năm 1987, không có ai trở lại, nhưng
từ 1987-1988, nhất là sau lễ phong hiến thánh cho 117 vị tử đạo
Việt Nam, có ngày có hằng trăm anh em Dân tộc kéo đến bao vây
nhà xin được rửa tội.” Số giáo dân ở giáo điểm này khoảng 2.800,
nhưng người dự tòng là 7.500 người trong 130 buôn làng trong
phạm vi 100 cây số.”
Cha Antôn Vương Đình Tài nói:
“Giáo dân và các em ở đây không có sách gì hết, tôi chỉ hướng
dẫn cho cách cầu nguyện, cầu nguyện liên tục, rồi cứ thế mà sống
với Chúa, tin tưởng phó thác vào Chúa. Vậy mà hiện nay số giáo
dân cũng được trên 4.000 người trong 97 buôn làng, rải rác trên
100km, giáo lý viên khoảng 100”
Mùa gặt dồi dào, nhưng thợ gặt
vẫn còn quá ít, mặc dầu đã có những bạn trẻ xông pha như cha
Nguyễn Đức Thịnh tiếp nối cha Tài ở Pleichuet, cha Marcô Bùi Duy
Chiến ở Cheoreo, Antôn Lê Ngọc Thanh tại Pleikly.
KẾT
rong câu chuyện kể lại “Sứ vụ
Jarai 35 năm”,
cha Giuse Trần Sĩ Tín nói : “Anh em chúng tôi
sáng mắt, sáng lòng, chính chúng tôi được trở lại. Truyền đạo mà
không giảng, có muống giảng cũng không được. Chỉ còn cách ở giữa
dân, làm với dân, học nơi dân …” Và cha kết luận : “Đó là điều
mà tôi gọi là Thiên Mệnh”.
Trích tập LỊCH SỬ
DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM
Lm. Nguyễn Tự Do
Cssr
[ từ trang 303 đến
trang 313 ]
|